hiểu biết của nhân loại, chúng ta phải nhớ rằng không có gì tĩnh tại trong toàn tiến trình tiến hóa của Địa Cầu hay của vũ trụ; không có gì khác hơn là quy trình và sự tiến triển, một sự tiếp tục tiến tới, một sự hoạch đắc ngày càng gia tăng và một sự thành tựu ngày càng dâng cao. Ngay đến Đức Christ cũng phải tuân phục đại luật này của vũ trụ. Cũng với sự tôn kính, ở đây chúng ta được chỉ cho thấy rằng Ngài cũng đã tiến tới trong kinh nghiệm của Ngài về Thiên tính, và (nếu điều đó có thể được diễn tả như thế) gần gũi với Đấng Cha và với Sự Sống Đại Đồng Duy Nhất hơn bao giờ hết. Sự nhận thức và sự lĩnh hội của Ngài về Thiên Ý sâu xa hơn và sự hoàn thành Thiên Ý đó của Ngài phù hợp với Mục Tiêu thiêng liêng hơn thuở Ngài ở Palestine 2 000 năm về trước. Tất nhiên (về phần Đức Christ) đã có một sự tăng trưởng nhận thức về chủ đích của Thiên Trí, như nó được thể hiện trong Đấng mà chúng ta gọi tên là Thượng Đế.
understanding, it must be remembered that there is nothing static in the entire evolutionary process of our planet or of the cosmos; there is naught but process and progress, a moving on, an increasing attainment and a mounting achievement. To this great law of the universe, even the Christ Himself is subject. In all reverence again, let it here be pointed out that He too has moved on in His experience of divinity and is (if it may be so expressed) closer to the Father and to the One Universal Life than ever before. His comprehension and His apprehension of the Will of God is deeper and His fulfilment of that Will is more in line with the divine Purpose than it was in Palestine two thousand years ago. There has necessarily been (on the part of Christ) a growing perception of the intention of the divine Mind, as it is embodied in that Identity to Whom we give the name of God.
Đức Christ không còn cần phải kêu lên trong đau khổ, “Hỡi Cha, không phải ý con mà là ý Cha được thực hiện”; ngày nay Ngài không còn ý chí của phàm nhân nữa mà chỉ có ý chí của Cha Ngài động viên Ngài, và khả năng quyết định là một biểu lộ đầy đủ của Ý Chí thiêng liêng đó. Khó mà diễn tả sự thành tựu của Ngài bằng những lời nào khác hơn. Những nhà luận giải đã tìm cách thanh minh và che đậy kinh nghiệm Gethsemane của Đức Christ, và quy cho những gì có vẻ như sự yếu đuối là do sự bộc phát nhân tính của Đức Christ và do đó mà thiên tính của Ngài tạm thời bị dìm xuống. Họ đã bị buộc phải đứng vào vị thế đó, do bởi lời tuyên bố phổ biến của các nhà thần học về sự hoàn thiện thiêng liêng của Đức Christ – một sự hoàn thiện tột đỉnh, tối cao, tuyệt đối mà chính Ngài không bao giờ tuyên bố như thế. Ngày nay, Ngài gần đến mức hoàn thiện đó hơn lần Ngài giáng lâm trước đây. Chính sự khai mở thiêng liêng này khiến Ngài có thể thực hiện sự chọn lựa đúng đắn, không chỉ cho bản thân Ngài
No longer need Christ, in agony say “Father, not my will but Thine be done”; He has today no personal will but only the will of His Father animates Him and the ability to make decisions which are a full expression of that divine Will. It is difficult to express His achievement in other words. Commentators have sought to explain away and gloss over the Gethsemane experience of the Christ, and to attribute what appears as weakness to an upsurging of Christ's humanity and, consequently, to a temporary submergence of His divine nature. They have been forced into this position because of the prevalent theological dictum as to Christ's divine perfection—an absolute, sovereign and ultimate perfection to which He Himself never made the slightest claim. He is today nearer that perfection than He ever was when before on Earth. It was this divine unfoldment which made it possible for Him to make right choice, not only for Himself
