User Tools

Site Tools


topic_documents:dhy:level1:qu1_dhy_cung4_cung5

DHY TỔNG HỢP - QU1

Học viên: Đặng Thúy Hằng

CUNG 4, CUNG 5 ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH NHÂN LOẠI

2

Bài DHY được hoàn thành dưới sự hướng dẫn và trợ giúp của thầy Lâm Kiệt. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tham khảo một số webinar bình giảng các cuốn RI, GWP, TCF,… của Giáo sư M.Robbin, do thầy Lâm Kiệt biên tập lại. Đây thực sự

là những tài liệu vô cùng hữu ích cho bài tiểu luận.

Trân trọng cám ơn thầy!

Mục lục

I. TỔNG QUAN ………………………………………………………………………………………………………………. 5 1. Vũ trụ………………………………………………………………………………………………………………….. 5 2. Thái dương hệ - Thái dương Thượng đế…………………………………………………………… 6 3. Bảy Cung—Bảy Thiên nhân……………………………………………………………………………….. 8 4. Hành tinh hệ - Hành tinh Thượng đế………………………………………………………………… 10 5. Chân thần, Chân thần Con người…………………………………………………………………….. 11 6. Mục đích của sự tiến hóa trong vũ trụ……………………………………………………………… 13 7. Thái dương Thiên thần …………………………………………………………………………………….. 14 8. Giới trong thiên nhiên; Giới thứ 4giới nhân loại ………………………………………….. 16 9. Cuộc tuần hoàn thứ 4 và thứ 5 trên dãy Địa cầu……………………………………………… 23

II. CÁC CUNG ẢNH HƯỞNG TỚI NHÂN LOẠI TRÊN HỆ ĐỊA CẦU HIỆN NAY……………… 25 III. CUNG 4, CUNG LINH HỒN CỦA NHÂN LOẠI ………………………………………………………….. 26 1. Những tương ứng về mặt số học, số 4, dẫn đến sự chỉnh hợp đặc biệt ………… 26 2. Tổng quát về cung 4…………………………………………………………………………………………. 28 3. Phương pháp hoạt động của cung 4 ……………………………………………………………….. 29 4. Cung 4—cung linh hồn của nhân loại………………………………………………………………. 32 a. Linh hồn, cung linh hồn, mô hình linh hồn……………………………………………………… 32 b. Mục tiêu, vận mệnh, nhiệm vụ của nhân loại được dẫn dắt qua cung linh hồn33

c. Nguyên tắc Xung đột - nguyên tắc Hài hòa là nguyên nhân nỗi thống khổ cũng như niềm hy vọng vinh quang của gia đình nhân loại trên Hành tinh Địa cầu…… 37

d. Một số tổng kết và dự báo của Chân sư DK …………………………………………………… 42 IV. CUNG 5, CUNG PHÀM NGÃ CỦA NHÂN LOẠI………………………………………………………… 44 1. Những tương ứng về mặt số học: số 5 ………………………………………………………………. 44 2. Tổng quát về cung 5……………………………………………………………………………………………. 44 3. Tính chất và phương pháp hoạt động của cung 5 ……………………………………………… 47 4. Cung 5—cung phàm ngã của nhân loại………………………………………………………………. 53 a. Phàm ngã, cung phàm ngã, mô hình phàm ngã ……………………………………………… 53 b. Mục tiêu, cách thức, lĩnh vực phụng sự của cung phàm ngã của nhân loại….. 55 c. Biểu đồ cung nhân loại trong Kỷ nguyên Bảo Bình………………………………………… 58 d. Một số quốc gia có cung 4, 5 kiểm soát trên thế giới……………………………………… 61 V. TỔNG KẾT ………………………………………………………………………………………………………………. 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………………………………………. 64

I. TỔNG QUAN

1. Vũ trụ

Qua Giáo lý bí nhiệm (H.P.Blavatsky), Luận về lửa càn khôn (A.Bailey), chúng ta được biết về Nguyên lý Cơ bản Đầu tiên mang tính nền tảng tuyệt đối cho mọi sự hiểu biết về đời sống và vũ trụ.

“Có một Nguyên lý Bất biến Vô biên; một Thực tại Tuyệt đối đi trước tất cả Hiện Hữu biểu lộ theo điều kiện. Nó vượt ngoài phạm vi và tầm với của bất kỳ tư duy hay sự diễn đạt nào của con người.

Vũ trụ biểu hiện được chứa đựng bên trong Thực tại Tuyệt đối này và là một biểu tượng có hạn định của Thực tại Tuyệt đối đó.” (TCF, 3)

Nguyên lý Cơ bản Đầu tiên là một Nguyên lý vô hạn, không thể xác định, không thể thay đổi; nó là một Thực tại tuyệt đối duy nhất, hoàn toàn. Nguyên lý này đi trước mọi sự Hiện hữu biểu lộ theo điều kiện, chúng ta phải dựa vào nó để nhận thức sự sống và vũ trụ.

Có ba phương diện được nhận thức trong toàn thể Vũ trụ biểu lộ này: Vũ trụ Thượng đế Ngôi Một, Vũ trụ Thượng đế Ngôi Hai và Vũ trụ Thượng đế Ngôi Ba. Từ những nguyên lý sáng tạo cơ bản này phát triển vô số những Vũ trụ bao gồm các Tinh Tú và các Thái dương hệ đang biểu lộ.

www.minhtrietmoi.org__// 2. Thái dương hệ - Thái dương Thượng đế Mỗi Thái dương hệ là sự biểu lộ của năng lượng và sự sống của một Đấng Vũ trụ vĩ đại được gọi là Thái dương Thượng đế. Thái dương Thượng đế đi vào biểu lộ qua trung gian của một Thái dương hệ tam phân. Thái dương hệ tam phân này được mô tả trên ba trạng thái: Ngôi Một (Tinh thần), Ngôi Hai (Linh hồn), Ngôi Ba (Vật chất). Mỗi Ngôi này lại biểu lộ tam phân. Các Ngôi này, cùng với Toàn thể biểu lộ, tạo nên mười biểu hiện hoàn thiện của Con người hoàn thiện. Ba phương diện của Toàn thể này hiện diện trong mọi sắc tướng. Ba phương diện của một Thái dương Thượng đế thể hiện qua 7 trung tâm lực, được biết đến với các danh xưng như là: 7 Thượng đế (Hành tinh Thượng đế), 7 Tinh quân, 7 Cung, 7 Thiên nhân, 7 Dyhan Chohans, 7 Nhất đẳng Thiên thần, 7 Thiên đế, 7 Đấng Kiến tạo. Thái dương Thượng đế có dạng thức gần hình cầu. Vòng giới hạn (phạm vi hoạt động) của Ngài gồm toàn thể chu vi của Thái dương hệ với Mặt trời ở trung tâm, bao hàm trong chu vi đó 7 hệ thống hành tinh và 3 hệ tổng hợp. Thể biểu lộ hồng trần của Ngài là Mặt trời. Sự sống của Ngài quét qua 7 hệ thống tiến hóa theo chu kỳ. Đây là chu kỳ hay còn gọi là cuộc tuần hoàn thái dương hệ. Đấng Thái dương Thượng đế quét 7 lần xung quanh 7 hệ thống hành tinh của Ngài, tạo thành một cuộc tuần hoàn thái dương (solar Round). “Ngài là toàn thể mọi biểu lộ, từ nguyên tử hồng trần trọng trược và thấp thỏi nhất, đến Đấng Dhyan Chohan cao tột trong vũ trụ.” (TCF, 256) “Mặt Trời là thể hồng trần của Thái Dương Thượng Đế, là thể biểu lộ của Ngài, và sự sống của Ngài quét qua 7 hệ thống tiến hoá theo chu kỳ trong cùng ý nghĩa như sự sống của một Hành Tinh Thượng Đế quét 7 lần xung quanh hệ thống 7 dãy hành tinh của Ngài.” (TCF, 255) Chân sư DK cho biết Thái dương hệ chúng ta hiện nay là Thái dương hệ cung 2, thuộc cấp đẳng thứ 4, với 7 cõi (hay cảnh) giới của nó. Thái dương hệ này thuộc cấp đẳng thứ 4 bởi vì vị trí của nó ở trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ 4, tính từ trên xuống dưới. “Thái dương hệ chúng ta được gọi là một hệ thống ở cấp thứ tư; nghĩa là nó có vị trí của nó trên cõi dĩ thái vũ trụ thứ 4, luôn luôn được tính từ trên xuống dưới.” “Một thái dương hệ thuộc đẳng cấp thứ tư, có các trung tâm lực của nó trên cõi vũ trụ thứ tư, và tạo ra biểu lộ bên ngoài từ cõi thứ tư của thái dương hệ, xuyên qua cõi phụ thứ tư của cõi hồng trần thái dương hệ.” (TCF, 118, 1086) “Bảy cảnh giới Biểu hiện Thiêng liêng, hay bảy cảnh giới chính của Thái dương hệ chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cảnh giới vũ trụ thấp nhất.” (IHS, 4) “Bảy cõi giới của chúng ta (việc làm chủ chúng là mục tiêu tinh thần lý tưởng của chúng ta), sau cùng mới chỉ là cõi vũ trụ thấp nhất, cõi hồng trần vũ trụ. Từ góc độ vũ trụ, các Chân sư chỉ mới là những người bắt đầu, và thậm chí những sự điểm đạo mà chúng ta khao khát ước mong sâu sắc (từ lần đầu tiên đến lần thứ sáu), đơn giản mới chỉ là những sự điểm đạo chuẩn bị cho những lần sau trên Con đường Tiến hóa cao hơn.” (RI, 390) “Cõi vũ trụ thấp nhất là cõi hồng trần vũ trụ và đó là cõi duy nhất mà thể trí hữu hạn của con người có thể hiểu được bằng bất cứ cách nào.” (TCF, 116) www.minhtrietmoi.org__// Bảy cảnh giới của cõi hồng trần vũ trụ này thể hiện bảy trạng thái tâm thức và bao gồm bảy đẳng cấp chính của các sinh linh. Trong Ánh sáng của linh hồn, trang 298, tác giả cho chúng ta bảng sự tương đồng như sau: 3. Bảy Cung—Bảy Thiên nhân Chúng ta được biết rằng, khi Sự sống duy nhất tìm cách mở rộng, bảy phân thân hoặc bảy luồng lực đã xuất lộ từ lốc xoáy trung tâm. Tinh thần và vật chất tương tác lẫn nhau và hình tướng hay sự biểu lộ của hệ mặt trời đã bắt đầu quá trình hình thành, - một diễn trình dẫn đến một sự hiện tồn cuối cùng. Bảy luồng lực, hay Bảy Cung trong hệ mặt trời của chúng ta bắt nguồn từ Bảy ngôi sao của chòm Đại Hùng. Các Ngài là các Đấng Chủ quản của các Cung, thường được gọi là Bảy Đấng Thánh hiền. Các Ngài tự biểu lộ qua trung gian của bảy Hành tinh Thượng đế, các Thượng đế này là các Đấng đại diện của các Ngài và đối với các Ngài, các Hành tinh Thượng đế thay thế cho mối liên hệ của nguyên mẫu. Bảy Chân linh Hành tinh biểu lộ qua trung gian của bảy hành tinh thánh thiện. Bảy Cung là Toàn Linh trí. Thông qua các Ngài, Thiên Cơ được thực hiện. Các Ngài có nhiệm vụ đấu tranh với vật chất để khuất phục nó cho mục đích thiêng liêng, và mục tiêu—là mang các hình tướng vật chất phục vụ cho phương diện sự sống, do đó tạo ra những phẩm chất làm cho ý chí của Thượng Đế được hình thành. Các Ngài tạo ra hình hài, làm sinh động tất cả các hình hài đó để xúc tiến Thiên cơ. Các Ngài là các Đấng thi hành hữu thức của mục tiêu thiêng liêng. “I. Mỗi Sự sống Cung là một biểu hiện của một Sự sống thái dương, và do đó, mỗi Hành tinh: 1. Được liên kết với mỗi sự sống hành tinh khác trong thái dương hệ. 2.Được sinh động bằng năng lượng phát ra từ một trong bảy thái dương hệ. 3. Được kích hoạt bằng ba luồng thần lực của sự sống đến từ: a) Các thái dương hệ bên ngoài thái dương hệ chúng ta; b) Chính thái dương hệ chúng ta; c) Đấng hành tinh của riêng nó.” (EPI, 152) “II. Mỗi cung là tác nhân nhận và quản thủ các năng lượng đến từ: Bảy thái dương hệ; Mười hai chòm sao. Mỗi cung chuyển các năng lượng này qua thể biểu lộ của nó (là một hành tinh), và bằng cách đó, truyền chuyển chúng tới hình tướng của hành tinh, và tới mọi hình tướng ở trên và ở trong hành tinh đó…; “ (EPI, 155) “III. Chính tính chất của một Sự sống của cung, trong thời gian và không gian, mới quyết định sắc tướng cõi hiện tượng.” (EPI, 193) “Một cung chỉ là một tên gọi cho một lực hay loại năng lượng đặc biệt, với sự nhấn mạnh vào tính chất mà lực đó biểu lộ, chứ không dựa vào khía cạnh hình tướng mà nó tạo ra. Đây là một định nghĩa đích thực về một cung.” (EPI, 316) Mỗi cung có một tên gọi khác nhau tùy theo năng lượng mà cung đó biểu lộ: www.minhtrietmoi.org__// “Nên nhớ rằng mỗi cung hiện thân cho một ý tưởng vốn có thể được cảm nhận như là một lý tưởng. Vào đúng lúc, các cung tạo ra các mô hình thế giới, mô hình này sẽ nắn tạo các hình thức của hành tinh, và như thế tạo ra sức mạnh bên trong của các diễn trình tiến hóa… Mỗi cung tạo ra ba mô hình chính, được đặt lên trạng thái vật chất, cho dù là mô hình của một người, một quốc gia hoặc một hành tinh. Ba mô hình này là: Mô hình tình cảm, Mô hình trí tuệ, Mô hình linh hồn.” (EPI, 391) (It must be remembered that each ray embodies an idea which can be sensed as an ideal. The rays in time produce the world patterns which mould the planetary forms, and thus produce the inner potency of the evolutionary processes… Every ray produces three major patterns which are imposed upon the matter aspect, whether it be that of a man, a nation or a planet. These three patterns are: emotional pattern, mental pattern, soul pattern). 4. Hành tinh hệ - Hành tinh Thượng đếHành tinh Thượng đế có dạng thức gần hình cầu. Vòng giới hạn của Ngài gồm toàn thể hệ thống hành tinh, bao hàm trong đó 7 dãy hành tinh, mỗi dãy hành tinh có 7 bầu hành tinh. Thể hồng trần của Ngài là bầu vật chất trọng trược của bất cứ dãy hành tinh nào. Sự sống của Ngài quét qua 7 lần chung quanh hệ thống 7 dãy hành tinh của Ngài. “Hành tinh Thượng đế là: Ngôi Ba kết hợp với Ngôi Hai, hay Brahma và Vishnu phối hợp, đưa đến toàn bộ Manasaputras thiêng liêng. Các Ngài là ý chí đang sử dụng vật chất hay là chất liệu nguyên thủy linh hoạt sáng suốt để biểu lộ Bác ái - Minh triết; tất cả các điều này đều dựa trên thiên ý và có căn bản là thuyết nhân quả.” (TCF, 403) “các Thực thể này là biểu hiện của Toàn Linh trí, các Ngài là các sự sống sinh động bên trong hình hài, và các Ngài là Manasaputra thiêng liêng với toàn bộ sự hiểu biết của các Ngài. Trong nhận thức huyền bí về điều này, có tàng ẩn bí mật về mối liên hệ chặt chẽ giữa tiến hóa của con người và tiến hóa thiên thần, con người là kho chứa (qua Hành tinh Thượng đế mà con người là một phần trong cơ thể Ngài) của mục đích của Thượng đế, và các Thiên thần trong mọi đẳng cấp cao của các Ngài là yếu tố thu hút kết hợp đang vận dụng vật chất và nắn tạo nó thành hình hài.” (TCF, 398) Các tế bào trong cơ thể của Ngài được làm bằng các đơn vị tiến hóa của nhân loại và thiên thần. “Các nguyên tử hay tế bào trong cơ thể Ngài được làm bằng toàn thể các đơn vị thiên thầncon người, rung động theo chủ âm của Ngài và đáp ứng với phạm vi sự sống của Ngài. Tất cả được giữ lại với nhau và được làm sinh động bởi ý chí hiện tồn của Ngài; và tất cả đều rung động theo trình độ mà Ngài đã đạt được trong cuộc tiến hoá.” (TCF, 256) “Hành Tinh Thượng Đế, mà cơ thể của Ngài được làm bằng các Chân thần con người và Chân thần của thiên thần và Ngài cũng có các nguyên tử thường tồn của Ngài.” (TCF, 299) “toàn thể con người và thiên thần trên một hành tinh, hợp thành một sinh thể của một Hành Tinh Thượng Đế, trong khi toàn thể các sinh linh thứ yếu trên một hành tinh (từ các thể vật chất của con người hoặc thiên thần xuống đến các giới khác trong thiên nhiên) hợp thành thể xác của Ngài.” (TCF, 302) • Hệ thống tiến hóa: Mỗi một hệ thống tiến hóa hành tinh gồm 7 dãy hành tinh, mỗi dãy hành tinh có 7 bầu hành tinh. Nhân loại trên mỗi bầu hành tinh sẽ trải qua 7 giống dân chính, tạo thành một chu kỳ hay vòng tuần hoàn của bầu hành tinh. 7 chu kỳ bầu hành tinh tạo thành 1 cuộc tuần hoàn. 7 cuộc tuần hoàn = 1 chu kỳ của dãy hành tinh 7 dãy hành tinh = 1 hệ tiến hóa 10 hệ tiến hóa = Thái dương hệ 5. Chân thần, Chân thần Con ngườiChân thần là Tia lửa của Ngọn Lửa thiêng, một điểm Linh quang của Thượng đế thiêng liêng. Giáo lý bí nhiệm 1, trang 82 cho rằng Chân thần: “là nguyên khí Duy Nhất có tính cách bất tử và vĩnh cửu của con người, nó là một phần bất khả phân ly của Tổng thể viên mãn (Tinh thần Vũ trụ), tổng thể này xạ ra nó và hấp thụ nó vào lúc kết liễu chu kỳ” và trang 231, dẫn quan niệm của Leibnitz về Chân thần: “giống như những đơn vị sơ cấp và bất diệt, chúng được ban cho quyền năng cho ra và nhận về đối với các đơn vị khác, và như vậy, chúng có năng lực xác định được tất cả những hiện tượng vật chất và tinh thần.” Trong Tâm lý học nội môn, Chân sư DK cho chúng ta biết về Chân thần: “Chân thần là Sự sống, được sống trong sự kết hợp với bảy Sự sống cung. Một Chân thần, bảy cung và vô số sắc tướng,—đây là cấu trúc đằng sau các thế giới biểu lộ.” (EPI,142) “Mọi Chân thần con người, được đưa vào biểu lộ bởi ý chí và mong muốn của một Chủ Tể cung nào đó, là một phần của thể biểu lộ của Ngài. Về mặt tiềm năng, chúng biểu lộ tính chất của Ngài và xuất hiện trong cõi hiện tượng tùy theo mức độ trong biểu lộ tiến hóa đã được đạt tới. “Ngài như thế nào, thì chúng ta như thế ấy trong thế giới này”. (EPI, 28) Giáo lý Thông thiên học cũng cho rằng Chân thần con người là các Tia lửa xuất phát từ Ngọn Lửa Thiêng Thượng đế, có đầy đủ tính chất của Ngọn Lửa, không thể tách rời khỏi Ngọn Lửa. Thượng đế là Đại thiên địa, con người là Tiểu thiên địa. “Con người là một Điểm Linh quang của Ngọn Lửa Thiêng. Tinh thần bên trong con người đồng bản thể với Thượng đế.” (C.W. Leadbeater) • Con người có dạng thức gần hình cầu với vòng giới hạn được xác định và được nhận ra, là một hình cầu vật chất với cái nhân sự sống ở trung tâm. “Con người chứa trong chính mình các nguyên tử đã biến phân, mà trong toàn thể chúng tạo thành hình hài biểu lộ của con người trên các cõi biểu lộ của y. Tất cả được làm cho linh hoạt bằng sự sống của y, bằng ý chí hiện tồn bền bỉ của y; tất cả đều rung động theo mức độ được đạt tới bằng sự tiến hoá của con người.” (TCF, 248) “Con người là một đơn vị năng lượng. Con người là kết quả của sự thử nghiệm vĩ đại của sự tiến hóa, cuối cùng đưa y tới sự phát triển đầy đủ bản chất của y, và tới một sự biểu lộ đầy đủ của 7 loại năng lượng chi phối y.” (EPII, 285) “Con người là sản phẩm cao nhất của sự hiện tồn trong ba cõi thấp. Bằng thuật ngữ con người (man), Tôi ám chỉ con người tâm linh, tức một con của Thượng Đế đang lâm phàm. Các hình tướng của mọi giới trong thiên nhiên—nhân loại, động vật, thực vật và khoáng vật − góp phần vào sự biểu lộ đó.” (TWM, 14) Một con người cũng biểu hiện tam phân qua Tinh thần, Linh hồn, Xác thể hay Chân thần, Chân ngã, Phàm ngã. www.minhtrietmoi.org__// Kiểu mẫu Nguyên hình Thiêng liêng của con người chính là Hành tinh Thượng đế. “Con người dần dần đạt được sự kiểm soát hữu thức trên vật chất trong 3 cõi thấp mà Kiểu mẫu Nguyên hình Thiêng liêng của con người, tức các Hành tinh Thượng đế, đã thành đạt được.” (TCF, 410) Chúng ta có thể khái quát sự biểu lộ của con người, Hành tinh Thượng đế, Thái dương Thượng đế trong vũ trụ như sau (theo TCF, 81): ^> Con người ^> Tiểu thiên địa—Chân thần biểu lộ, Đấng độc nhất (One) ^ |> Hành tinh Thượng đế |> Nhóm biểu lộ (manifesting group) | |> Thái dương Thượng đế|> Đại thiên địa—Thái dương hệ biểu lộ (biểu lộ của tất cả mọi nhóm, mọi tiến hóa trong Cơ thể Ngài)| Các Chân thần con người có diễn trình tiến hóa qua các chu kỳ phát triển tương tự (ở mức độ thu nhỏ) so với các chu kỳ của Sự sống duy nhất, Đấng thầm nhuần và làm linh hoạt tất cả vạn vật. “Chúng ta có thể xem Monad của con người trải qua các chu kỳ tương tự với các chu kỳ mà vị Hành Tinh Thượng Đế vượt qua… Chu kỳ này bao hàm giai đoạn của ba thái dương hệ chính yếu—thái dương hệ có trước thái dương hệ này, thái dương hệ hiện tại, và thái dương hệ tiếp theo.” (TCF, 1088) 6. Mục đích của sự tiến hóa trong vũ trụ Mục tiêu của toàn bộ diễn trình tiến hóa là khai mở sự hiểu biết hữu thức. “mục đích của tiến hóa là đạt được tâm thức trên tất cả các cõi” (TCF, 285) Tâm thức được tạo ra khi Sự sống duy nhất biểu lộ qua vật chất. Tâm thức là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, nó là linh hồn của vạn vật. “Tâm thức này, nguyên là kết quả của sự hợp nhất của hai cực tinh thần và vật chất, là linh hồn của vạn vật; nó thấm nhuần mọi chất liệu hay là năng lượng khách quan; nó nằm dưới mọi hình hài, dù cho đó là hình hài của loại đơn vị năng lượng mà chúng ta gọi là một nguyên tử, hay là hình hài của con người, một hành tinh, hoặc là một thái dương hệ.” (TWM, 9) Theo Luận về Lửa càn khôn, trang 7, ta có thể tóm tắt lại mục tiêu tiến hóa của các đơn vị trong thái dương hệ như bảng sau: ^Đơn vị ^Mục tiêu tiến hóa ^ |> Nguyên tử |> là ngã thức như được minh hoạ trong giới nhân loại | |> Con người |> là tập thể thức như được tiêu biểu bởi một Hành Tinh Thượng Đế | |> Hành tinh Thượng đế|> là Thiên Thức/Thượng Đế thức như được tiêu biểu bởi Thái Dương Thượng Đế| |Thái dương Thượng đế |> là toàn thể mọi trạng thái tâm thức trong Thái dương hệ | “Con người nhắm vào việc trở thành một Manasaputra thiêng liêng, hay là Đứa Con hoàn thiện của trí tuệ, đang biểu hiện mọi năng lực có sẵn trong thể trí và như vậy đang trở thành giống như đối với cội nguồn Chân thần của y, tức một Hành tinh Thượng đế. Một Hành tinh Thượng đế đã phát triển Manas và đang bận tâm với vấn đề trở thành Con của Minh triết, không phải một cách tiềm tàng mà biểu lộ đầy đủ. Một Thái dương Thượng đế vừa là một Manasaputra thiêng liêng vừa là Rồng Minh triết và vấn đề của Ngài liên quan đến sự phát triển nguyên khí Ý chí vũ trụ vốn dĩ tạo cho Ngài điều được gọi là “Mãnh sư của Ý chí Vũ trụ.” (TCF, 306) 7. Thái dương Thiên thần Thái dương Thiên thần được biết đến với nhiều tên gọi như: Agnishvattas, Manasa devas, Solar angels, Solar Pitris, Asuras, Dhyãn Chohans (Thiền Định Đế Quân), Hỏa thần quân, Lord of Flame,… Các Ngài là các Đấng Nhập Niết Bàn từ một Mahamanvantara (Thái dương hệ) trước. Các Ngài có một mối liên hệ bí ẩn sâu xa với con người, liên quan đến bản chất thiết yếu của họ, chịu trách nhiệm cho việc gieo cấy tia sáng trí tuệ trong người thú vào thuở ban sơ ở giai đoạn biệt ngã hóa của con người. Bà AA Bailey trích lại một định nghĩa của nhà Thông thiên học Subba Rao về các Thái dương Thiên thần như là các thực thể ở đẳng cấp tinh thần rất cao, các Nirmanakayas đã được giải thoát về mặt tinh thần (theo giải thích của Giáo sư M.Robbins thì các Nirmanakayas là những điểm đạo đồ tối thiểu ở cấp độ thứ sáu, đã được giải thoát khỏi các cõi tinh thần–vốn là các cõi của Tam nguyên tinh thần, và tập trung vào cõi chân thần). Mức độ tiến hóa của các Ngài cao hơn nhiều so với các Chân sư, các Ngài được gọi là “điểm đạo đồ của mọi cấp độ” (các cấp độ mà con người có thể đạt được). Các Ngài từng là con người trong Mahamanvantara trước đây (mahamanvantaras là những thế kỷ huyền bí, mà theo niên đại huyền bí nghĩa là hàng trăm nghìn tỷ năm). “Thái dương Thiên thần là các thực thể ở đẳng cấp tinh thần cao—với một tâm thức được tinh luyện đến mức nó tương ứng với chất liệu vật chất mà các thần đó khoác lấy.” (TCF, 680) Các Thái dương Thiên thần là các thành viên thuộc Hội đồng Thái dương Thượng đế. (Ở đây, ta phân biệt với các Chân sư, các Chân sư thì thuộc Hội đồng Hành tinh Thượng đế.) Công việc của các Thái dương Thiên thần trong các hành tinh hệ là việc tạo ra biểu lộ của Huyền giai sáng tạo thứ 4 qua việc các Ngài tự hy sinh chính các Ngài cho Huyền giai này. Từ chính bản thể các Ngài, các Ngài ban ra những gì cần thiết để tạo ra nguyên khí biệt ngã hóa, hay còn gọi là “ngã thức”, giúp cho Tinh thần thiêng liêng nhập vào sự sống sung mãn hơn. Các Ngài hiến dâng chính các Ngài cho con người có thể hiện hữu. “Các Ngài bước vào một hành tinh hệ theo làn sóng năng lượng trí tuệ từ bí huyệt đầu của Thái dương Thượng đế. Sự tiếp xúc của các Ngài với một hành tinh hệ, là sự tiếp xúc vốn tạo ra biểu lộ của Huyền giai sáng tạo thứ tư, và đưa đến việc các Chân thần khoác lấy hình hài trong ba cõi thấp. Các Đấng tự hy sinh chính các Ngài cho Huyền giai nhân loại (ở đây chúng ta phải để ý mức chính xác của sự kiện là các Ngài phát ra—emanate—từ bí huyệt đầu của Thượng đế, hay là từ trạng thái ý chí), là các Đấng Cứu độ thực sự, những người hiến dâng đời sống của các Ngài cho lợi ích của nhân loại. Trong chu kỳ pralaya, các Ngài triệt thoái (như mọi vật khác) ra khỏi biểu lộ, và quay về một trung tâm vũ trụ mà bí huyệt ở đầu của Thượng đế chỉ là một hình ảnh lu mờ của trung tâm vũ trụ đó; các Ngài quay về với kinh nghiệm càng phong phú hơn.” (TCF, 743) “Công việc của các Manasadevas được xúc tiến khắp toàn bộ thái dương hệ, và một luân chuyển thường xuyên xảy ra, một sự truyền đạt năng lượng thường xuyên và của các đơn vị thần lực biểu hiện cho năng lượng đó, diễn ra khắp toàn thể thái dương hệ. Sự truyền chuyển này có thể xảy ra trong bất cứ hành tinh hệ nào khi giới thứ tư hay giới nhân loại trở nên được phát xạ; điều đó thực sự đánh dấu việc bắt đầu thời kỳ hồng hoang.” (TCF, 779) “Dãy thứ tư trong mỗi hành tinh hệ đều chứng kiến công việc của các Solar Pitris có liên hệ đến con người đã được bắt đầu. Dãy đó cũng chứng kiến các Pitris với các thể con người hoạt động qua xung lực do các Solar Angels đưa ra.” (TCF, 781) Các Đấng Thái dương Thiên thần giúp con người tạo nên thể nguyên nhân của mình, khai mở Hoa sen Chân ngã và dần dần giải thoát con người ra khỏi các giới hạn hình hài vật chất mà chính y đã tạo nên. Nhờ công việc của các Ngài mà con người có thể trở nên hữu thức. Các Ngài tạo nên các cánh hoa của Hoa sen Chân ngã của con người bằng chất liệu của chính các Ngài (nguyên khí ngã thức), và tiếp tục cấp năng lượng để đưa các loa tuyến đi vào hoạt động đầy đủ. Các Ngài có nhiều cấp đẳng khác nhau. Đối với việc kiến tạo thể nguyên nhân của con người, các Thiên thần phụ trách ít cánh hoa sen hơn sẽ có đẳng cấp thấp hơn. Thiên thần Hiện diện (the Angel of Presence) là đại diện được phóng chiếu của Thái dương Thiên thần trên các cõi phụ thứ hai và thứ ba của cõi thượng trí, nằm dưới Hoa sen Chân ngã. Thiên thần Hiện diện là Đấng kết nối giữa cõi phụ cao nhất của cõi trí (thượng trí) với bốn cõi phụ thấp hơn của cõi trí (hạ trí). Thể nguyên nhân của con người nằm trên cõi phụ thứ hai hoặc thứ ba của cõi thượng trí. Thể nguyên nhân là kho chứa minh triết mà con người thu đạt được qua nhiều kiếp sống, qua các bài học được tích trữ qua một cuộc hành hương dài, và qua “sự đồng hóa của nhiều sự sống đa dạng”. Đối với con người, công việc của các Thái dương Thiên thần là mang lại sự hợp nhất giữa Linh ngã (the divine Ego) với phàm ngã (the lower personal self). Các Ngài hoạt động qua các nguyên tử thường tồn hạ trí (the mental units/đơn vị hạ trí) và ghi dấu lên nguyên tử đó phần mục tiêu của Thượng đế mà cá nhân có thể thực hiện trên cõi trần. Nỗ lực đầu tiên của các Ngài là chuyển đổi người thú thành con người, và nỗ lực thứ hai là biến đổi nhân loại thành các thực thể tâm linh hay giới thứ 5, giới linh hồn. 8. Giới trong thiên nhiên; Giới thứ 4giới nhân loạiMỗi giới trong thiên nhiên là biểu lộ của một Sự sống. 7 Cung, hay 7 Sự sống được biểu lộ qua 7 giới: 1. Giới khoáng vật …………………………. cung VII 2. Giới thực vật …………………………….. cung VI 3. Giới động vật …………………………….. cung V 4. Giới nhân loại …………………………… cung IV 5. Giới Linh hồn ……………………………. cung III 6. Giới các Đấng Hành tinh …………….. cung II 7. Giới các Đấng Thái dương ………….. cung I (EPI, 216) Mỗi một giới này phát triển một tính chất nổi bật với các thuộc tính thiêng liêng dưới hình thức phụ thuộc. Nó là biểu hiện của một trạng thái tâm thức, và biểu thị mức độ tiến hóa của một Thực thể thấm nhuần nó, ở bất kỳ thời điểm nào. “Mỗi một trong các giới của thiên nhiên là sự biểu lộ của một Sự sống hay Thực thể; thí dụ con người là sự biểu lộ của một vị Hành tinh Thượng Đế; toàn thể nhân loại (Huyền giai thứ 4), cùng với sự tiến hóa thiên thần, được nhận thấy như là các trung tâm lực của Thái dương Thượng đế.” (TCF, 460) “Mỗi một trong các giới này đều đưa trạng thái ý thức tiến tới đến một giai đoạn hoàn thiện lớn lao hơn, và thể hiện một sự bén nhạy và đáp ứng nhiều hơn với các điều kiện bao quanh bên ngoài và bên trong, so với giới trước đây.” (EPI, 249) “mỗi giới trong thiên nhiên tùy thuộc vào, và rút sự sống, từ giới có trước nó theo ý nghĩa thời gian, trong chu kỳ tiến hóa. Mỗi giới là một kho chứa năng lực và sức sống cho giới kế tiếp xuất hiện theo Thiên cơ… Mỗi giới cung cấp sự hy sinh cho giới kế tiếp theo sau trong chuỗi tiến hóa. Định luật Hy Sinh quyết định bản chất của mỗi giới.” (EPI, 219) Như vậy ta có thể hiểu, giới thứ 4, là biểu hiện trạng thái tâm thức nhân loại của Sự sống hay Chân thần Con người đã và đang đạt tới trong chu kỳ biểu lộ này. Và giới thứ 5, hay trạng thái tâm thức linh hồn chính là mục tiêu tiến hóa tiếp theo của các Chân thần Con người. “Giới thứ năm hay giới tinh thần được nhập vào khi các đơn vị của giới thứ tư thành công trong việc làm linh hoạt loa tuyến thứ năm trong mọi nguyên tử của con người tam phân thấp.” (TCF, 698) • Giới thứ 4—Biểu lộ của Huyền giai sáng tạo thứ 4 của các Chân thần Con người. Huyền giai sáng tạo thứ 4, “Huyền Giai của các Chân thần nhân loại chính là kẻ môi giới hay là những kẻ tổng hợp; họ biểu lộ sự thành tựu của Thái Dương Hệ thứ nhất và mục tiêu của Thái Dương Hệ thứ hai.” (EA, 45) “nhân loại, là giới thứ tư, vốn là một biểu lộ của huyền giai sáng tạo thứ tư của các Chân thần Con người, được cuốn đi bởi bản năng hay xung lực hướng tới sự hài hòa, và như vậy chủ yếu ở dưới ảnh hưởng của cung 4. Sự hài hòa này được đạt đến nhờ việc sử dụng năng lượng của cung 5, cung kiến thức. Lúc bấy giờ nhờ kiến thức có được và được áp dụng, kết quả là sự mỹ lệ và năng lực sáng tạo.” (EPI, 347) Chân sư DK cho chúng ta biết giới nhân loại có cung linh hồn là cung 4, cung phàm ngã là cung 5. “Hai cung năng lượng thiêng liêng đặc biệt hoạt động trong việc đưa giới này vào biểu lộ.”(EPI, 320) Giới thứ 5, mục tiêu tiến hóa của nhân loại, có linh hồn cung 2, phàm ngã cung 5. “Trong giới thứ tư, là giới nhân loại, yếu tố kiểm soát là yếu tố ham muốn, kết thúc trong khát vọng. Trong giới thứ năm, là giới tinh thần, yếu tố kiểm soát là yếu tố về mục đích thiêng liêng hay ý chí của Thượng Đế.” (EPII, 346) “Giới nhân loại đang tìm cách làm biểu lộ mong muốn hay bản chất thương yêu của Hành tinh Thượng đế.” (TCF, 590) “Trong giới thứ tư, tính chất đang xuất hiện là trạng thái bác ái hoặc sự hiểu biết tổng hợp, vốn là trực giác.” (EPI, 200) Giới nhân loại có vai trò quan trọng trong mọi hệ thống tiến hóa. “Cần phải nói rằng trong mọi hệ thống tiến hóa, trên một số bầu hành tinh trong hệ thống, con người hay các đơn vị hữu ngã thức được tìm thấy. Các điều kiện sống, môi trường chung quanh và hình thức có thể khác, nhưng Huyền giai nhân loại đang tác động trong mọi hệ thống tiến hóa.” (TCF, 359) “Nhân loại là kho báu của Thượng đế, vì chỉ trong giới nhân loại,… là ba tính chất thiêng liêng được tìm thấy trong tinh hoa đầy đủ của chúng và cùng với nhau. Nơi con người, Đức Chúa Cha đã ẩn giấu bí mật của sự sống; nơi con người, Đức Chúa Con có cất giấu cái kho tàng minh triết và bác ái; trong con người, Đức Chúa Thánh Thần đã cấy vào bí nhiệm của sự biểu lộ. Nhân loại và chỉ có nhân loại mới có thể tiết lộ bản thể của Chúa Cha và của sự sống vĩnh hằng.” “…Nhiệm vụ được đưa ra cho con người để nâng vật chất lên cõi trời và tôn vinh một cách đúng mức khía cạnh hình tướng của sự sống qua sự biểu lộ hữu thức của các quyền năng thiêng liêng của con người.” (EPI, 313) “Đừng quên một chân lý huyền linh rằng mọi hình thức của sự sống chuyển qua một giai đoạn có quá trình phát triển (career) của chúng thông qua giới nhân loại.” (TCF, 437) Các Chân thần Nhân loại đang tiến hóa trong Huyền giai sáng tạo thứ 4 này nằm trên ba cung chính: cung 1, cung 2, cung 3 (TCF, 120). “khi nghiên cứu gia đình nhân loại với tư cách một đơn vị và một toàn bộ, về căn bản, nó cũng được phát hiện là một Chân thần, với bảy nhóm chân ngã, trong đó mọi linh hồn (đang luân hồi và không luân hồi) đều có vị trí của chúng, và với bốn mươi chín hình thức chủng tộc tương ứng, mà qua đó bảy nhóm linh hồn tự biểu lộ theo chu kỳ.” (EPI, 316) “Nhân loại, mà bộ luận này đang bàn đến, là một biểu hiện của sự sống của Thượng Đế, và mỗi con người xuất hiện theo đường lối này hoặc đường lối khác của bảy thần lực cung. Bản chất của linh hồn y được định tính hay được quyết định bởi Sự sống của cung vốn đã cấp sinh khí cho y, và bản chất hình hài (phàm ngã) của y được nhuốm màu bởi Đấng Cai Quản cung, Đấng này— trong sự xuất hiện theo chu kỳ của nó trên cõi trần ở bất cứ thời điểm đặc biệt nào—ấn định tính chất của sự sống nhân loại và của các hình hài trong các giới của thiên nhiên. Bản chất hay tính chất của linh hồn vẫn như nhau suốt một chu kỳ thế giới; sự sống hình hài và bản chất hình hài của nó thay đổi từ kiếp sống này qua kiếp sống khác, tùy theo nhu cầu có chu kỳ và tình trạng của tập thể chung quanh. Cái sau này (sự sống hình tướng) được quyết định bởi cung hoặc các cung đang lâm phàm vào lúc đó.” (EPI, 142) • Tính chất mà giới thứ 4 biểu lộ là trạng thái bác ái hay sự hiểu biết tổng hợp, còn được gọi là trực giác. “Trong giới thứ tư, tính chất đang xuất hiện là trạng thái bác ái hoặc sự hiểu biết tổng hợp, vốn là trực giác. Trực giác này là một tính chất của chất thượng trí, và của “chitta” hay chất hạ trí. Con người cũng được dự định trở nên phát xạ; hương trầm hoặc hương thơm của đời sống của y phải thăng lên, và nhờ thế thu hút sự chú ý của các yếu tố khai mở đang chờ dẫn y đến sự giải thoát.” (EPI, 200) • Phương pháp phát triển dành cho nhân loại là sự tự biểu lộ và tự nhận thức. Con người thâu nhận, hoạnh đắc kinh nghiệm trong các cõi vật chất, chế ngự vật chất và chuyển hóa chúng. “Cách thức hay phương pháp phát triển dành cho nhân loại là sự tự biểu lộ và sự tự nhận thức. Khi tiến trình này đạt tới tuyệt đích, bản ngã được biểu lộ là Bản ngã Duy nhất hay là Sự sống cung, và sự nhận thức được đạt tới là sự thiên khải về Thượng Đế như là tính chất của thế giới biểu lộ, và như là Sự sống đằng sau sắc tướng và tính chất. Phương pháp được dùng để mang lại sự nhận thức này là kinh nghiệm, bắt đầu với sự biệt ngã hóa, và kết thúc với sự điểm đạo, nhờ thế tạo ra sự phối hợp và biểu lộ hoàn hảo của sự sống—tính chất—sắc tướng.” (EPI, 143) • Huyền giai thứ 4 có vai trò quan trọng trong diễn trình tiến hóa và sự thành toàn của các Chân thần nhân loại. Huyền giai Sáng tạo thứ 4 là Huyền giai Sáng tạo của các Chân thần nhân loại được gọi là Initiates, các điểm đạo đồ, vì các Chân thần này tiến hóa thông qua các cuộc điểm đạo. “Huyền giai sáng tạo thứ 4 chủ yếu là Huyền giai của manas.” (TCF, 363) “Huyền giai sáng tạo thứ 4 là nhóm mà trong đó trạng thái cao nhất của con người, tức là “Cha trên trời” tìm được vị trí. Các sự sống này là các điểm lửa, chúng phải trở thành ngọn lửa; chúng làm điều này qua trung gian của Huyền Giai thứ năm và bốn tim bấc (wicks), hay là hai Huyền giai nhị phân thấp hơn. Như vậy, có thể nhận ra rằng xét về con người, các Huyền giai thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy, trong chu kỳ lâm phàm, là chính cái ngã (self) của con người. Các Ngài là “Các Đấng Hy sinh” và “Các Đấng Bác ái”, tinh hoa của Atma—Buddhi.” (TCF, 1200) • Giới nhân loại trong chu kỳ hiện nay trên Hành tinh Địa cầu Tất cả các Chân thần trên con đường tiến hóa đều trải qua các thời kỳ, trong các hệ thống hành tinh, dưới ánh hưởng của các Hành tinh Thượng đế khác nhau. “Một điểm cần được nhấn mạnh ở đây là tất cả các Chân thần đều trải qua các thời kỳ khác nhau, dưới ảnh hưởng của các Hành tinh Thượng đế khác nhau, và tất cả được tìm thấy ở một thời kỳ nào đó trong mỗi hệ thống hành tinh. Điều này không có nghĩa là mỗi con người phải trải qua một giai đoạn luân hồi trên mỗi hệ thống hành tinh. Nó chỉ có nghĩa là trên một bầu nào đó trong mỗi hệ thống hành tinh, con người sẽ được tìm thấy hoặc là trước khi tái sinh vào cõi trần, giữa các chu kỳ chân ngã khác nhau (một sự việc hoàn toàn khác đối với các giai đoạn giữa các kiếp sống hồng trần) giữa các cuộc tuần hoàn khác nhau hay là các Manvantaras hoặc là giữa các căn chủng và phụ chủng khác nhau.” (TCF, 365) Hệ thống tiến hóa mà các Chân thần Con người đang biểu hiện trạng thái tâm thức nhân loại trong chu kỳ hiện nay là hệ Địa cầu. Huyền giai nhân loại đang trải qua các kinh nghiệm tiến hóa trên dãy thứ 4-–dãy Địa cầu, và cũng trên bầu vật chất trọng trược nhất của dãy, bầu thứ 4—bầu Địa cầu. Hành tinh Thượng đế Địa cầu là một trong bốn Thượng đế thứ yếu. “Hành tinh Thượng đế của hệ thống này là một trong bốn Thượng đế thứ yếu, hay là các Đấng chủ quản của các cung, và do đó liên quan đặc biệt với sự phát triển của một thuộc tính của manas.” (TCF, 361) Theo như trích dẫn trên thì Đấng chủ quản hệ thống Địa cầu đang phát triển một thuộc tính riêng biệt của trí tuệ. Giáo sư M.Robbin cho rằng bốn Thượng đế thứ yếu đang phát triển trí tuệ là các Đấng chủ quản các hệ hành tinh Địa cầu, Hỏa tinh, Diêm Vương tinh và Kim tinh. Có một gợi ý trong Luận về lửa càn khôn của Chân sư DK về Kim tinh như một Thượng đế thứ yếu: “The Lord of Venus holds place in the logoic quaternary, as does the Lord of Earth.” (TCF, 300) Là một trong hai đơn vị cấu tạo nên tế bào trong cơ thể Hành tinh Thượng đế, giới nhân loại cũng có vai trò quan trọng trong chu kỳ tiến hóa hiện nay của chính Đấng Hành tinh Thượng đế. “Dãy Địa cầu thứ tư này là một trong các dãy quan trọng nhất về phương diện này, vì đó là địa điểm ấn định đối với việc Chân thần nhân loại chi phối thể dĩ thái cùng mục đích nhắm vào cả hai sự giải thoát của con người và hành tinh ra khỏi các hạn chế. Dãy Địa cầu này mặc dù không phải là một trong bảy dãy hành tinh thánh thiện, lại có tầm quan trọng tối yếu vào lúc này đối với Hành Tinh Thượng Đế. Ngài tạm dùng nó như là một phương tiện nhập thể và phương tiện biểu lộ. Cuộc tuần hoàn thứ tư này tìm được câu giải đáp cho cuộc sống vất vả và hỗn độn trong sự việc rất đơn giản là phá tan mạng lưới dĩ thái để đem lại giải thoát và cho phép sử dụng một hình hài thích hợp hơn sau này.” (TCF, 115) Như vậy, việc “Chân thần nhân loại chi phối thể dĩ thái” để giải thoát con người và hành tinh trên Địa cầu là kế hoạch được định sẵn của Hành tinh Thượng đế. Tại thời điểm đặc biệt này trên lịch sử hành tinh của chúng ta, con số 4 chiếm ưu thế. Địa cầu là hệ hành tinh thứ tư, và Hành tinh Thượng đế đang tập trung vào dãy thứ tư của Ngài. Ngài đang thực hiện cuộc điểm đạo thứ tư (cuộc điểm đạo nhỏ của Thượng đế—theo góc độ dãy hành tinh), trong vòng tuần hoàn thứ tư trên bầu thứ tư này. Thể dĩ thái của giới nhân loại (và chỉ trong giới nhân loại) được tạo thành bởi 4 loại vật chất dĩ thái, lý do là để sau rốt trong quá trình tiến hóa, mỗi một trong 4 loại chất dĩ thái này sẽ được đáp ứng với 4 cõi phụ cao của cõi hồng trần vũ trụ: cõi Thượng đế, cõi Chân thần, cõi Niết bàn và cõi Bồ đề. Các Chân thần con người được dự định để biểu lộ trên cõi thứ tư—cõi Bồ đề, và Bồ đề là năng lượng để giải thoát khỏi hình hài. Vì vậy, dãy thứ tư là nơi được ấn định cho sự chi phối thể dĩ thái của các Chân thần con người. Sự thành tựu của con người dẫn đến sự thành tựu của Hành tinh Thượng đế, bởi khi mỗi đơn vị tâm thức con người đạt đến mục tiêu giải thoát của mình thì “một đoạn rất nhỏ của lưới dĩ thái thuộc thể dĩ thái hành tinh bị lửa phá hủy” và cuối cùng sự thành tựu của tất cả các đơn vị tâm thức dẫn đến phá tan mạng dưới dĩ thái, đem lại sự giải thoát cho Ngài khỏi các giới hạn vật chất trọng trược. “gia đình nhân loại có một mối liên quan với Hành tinh Thượng đế của Trái đất chúng ta, được biểu lộ rõ nhất bằng việc phát biểu rằng gia đình nhân loại tạo thành tim và não của Ngài.” (EPI, 27) Giới nhân loại trên Hành tinh Địa cầu chúng ta hiện nay gồm 5 nhóm chân ngã: “Các Chân ngã Lemuria nhân loại Địa cầu thật sự của chúng ta Các Chân ngã đã đến vào thời Atlantis Các Chân ngã của chuỗi Mặt trăng từ mặt trăng Các Chân ngã từ các hành tinh khác Các Chân ngã hiếm có và cao cấp đang chờ lâm phàm” (EPII, 200) Con người đang phát triển 7 nguyên khí (thể xác không phải là nguyên khí). Monad mang lại 2 nguyên khí: Buddhi, Atma Solar Gods mang lại 2 nguyên khí: hạ trí, thượng trí Lunar Lord mang lại 3 nguyên khí: thể dĩ thái, prana, kama manas (trí cảm) Địa cầu mang lại thể xác Cấu tạo một con người trên Địa cầu (vẽ lại theo Giáo lý bí nhiệm I, 248) Theo Chân sư DK, bảy nguyên khí liên quan đến con người như sau (LOS, 74): ^ ^Các nguyên khí được đánh số ^ ^ ^Từ

dưới

lên^Từ

trên

xuống^ |> Prana |> năng lượng sống |> thể dĩ thái |> cõi hồng trần |> 1 |> 7 | |> Kama |> ham muốn, cảm xúc |> thể tình cảm |> cõi trung giới|> 2 |> 6 | |> Lower Manas

> (Hạ Trí)|> trí cụ thể |> thể trí |> cõi trí |> 3 |> 5 | |> Higher Manas (Thượng Trí) |> trí trừu tượng |> thể nguyên nhân (chân ngã)|> cõi trí |> 4 |> 4 | |> Buddhi (Bồ Đề) |> trực giác |> thể bồ đề |> cõi bồ đề |> 5 |> 3 | |> Atma |> ý chí tinh thần |> thể atma |> cõi atma |> 6 |> 2 | |> Monad (Chân

> Thần) |> Nguyên khí bất biến vô biên trong Đại Vũ trụ| | |> 7 |> 1 | 9. Cuộc tuần hoàn thứ 4 và thứ 5 trên dãy Địa cầu Như chúng ta đã biết, mỗi một dãy hành tinh trải qua 7 cuộc tuần hoàn trên 7 bầu. Hiện nay nhân loại trên hành tinh hệ thứ 4, hệ Địa cầu, đang ở giữa cuộc tuần hoàn thứ 4 của dãy thứ 4 Địa cầu, trên bầu hành tinh Địa cầu. Đây là cuộc tuần hoàn cảm dục. “Liên quan với một Hành tinh Thượng đế điều đó có thể được xem như chu kỳ mà chúng ta gọi là cuộc tuần hoàn trong đó sự sống của một Hành tinh Thượng đế chu lưu khắp cả 7 bầu hành tinh.” (TCF, 278)—ta biết rằng đây là 7 bầu hành tinh của một dãy hành tinh. “Cuộc tuần hoàn hiện tại, tức cuộc tuần hoàn thứ tư là cuộc tuần hoàn mà trong đó dục vọng hay là sự đáp ứng với tiếp xúc và cảm giác được đưa tới sự biểu lộ đầy đủ nhất. Trong cuộc tuần hoàn sắp tới, tức cuộc tuần hoàn thứ năm, nguyên khí trí tuệ, tức manas, sẽ đạt được kết quả.” (TCF, 571) Giới nhân loại ở dưới sự ảnh hưởng chính của 2 cung năng lượng 4 và 5, vì vậy có những tương ứng về số cần được nghiên cứu. Chân sư DK cho chúng ta một số chỉ dẫn quan trọng về hai cuộc tuần hoàn thứ 4 và thứ 5 này. Qua đó, chúng ta có thể hiểu thêm về tình trạng tiến hóa hiện nay cũng như thời cơ và cơ hội trong tương lai của nhân loại. “Điều đó đặc biệt lý thú vào lúc mà chúng ta ở trong cuộc tuần hoàn thứ 4 trong một dãy cũng như trong cuộc tuần hoàn thứ 4 đối với hệ thống 7 dãy. Việc đó đã dẫn đến các khả năng tiến hóa rất quan trọng.” (TCF, 459) “Giống như các đơn vị của Huyền giai sáng tạo thứ tư, tức nhân loại, đang tiến hóa qua việc sử dụng thể xác, nhưng vào lúc này, đang an trụ trong các thể cảm dục của họ, thế nên chúng ta đã thấy rằng thái dương hệ biểu lộ hợp thành thể xác của Thượng Đế, mặc dù sự tập trung của Ngài đang ở trong thể cảm dục của Ngài. Điều đó có ý nghĩa là trong kỳ khai nguyên lớn hơn này, Thượng đế sẽ nhận được Điểm Đạo vũ trụ thứ tư. Một ẩn ngôn có thể soi sáng nằm trong sự tương ứng vốn có giữa phát biểu này với sự phát triển căn chủng thứ tư, và điều này, thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư hay cuộc tuần hoàn cảm dục.” (TCF, 571) “Cuộc tuần hoàn hiện tại (của chúng ta) đang là cuộc tuần hoàn giữa, là cuộc tuần hoàn hiệu chỉnh và là sự cân bằng cuối cùng giữa tinh thần với vật chất. Tóm lại, chính ở điểm đó có sự ngự trị của vật chất đích thực, trạng thái thô sơ nhất của nó dừng lại và đến chỗ kết thúc.” (TCF, 497) Sự tiến hóa của mỗi một đơn vị trong giới nhân loại gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của Đấng Hành tinh Thượng đế, và mục tiêu, cùng với sự thành toàn của Người trong chu kỳ này cũng mở ra những cơ hội cho con người. “Các hành tinh thánh thiện được cấu tạo bằng chất dĩ thái thứ 4 (TCF, 121)” và Địa cầu mới chỉ đang trong quá trình chuyển hóa thành hành tinh thánh thiện. “Cuộc tuần hoàn thứ tư này tìm được câu giải đáp về sự sống bền bỉ và hỗn độn trong sự việc rất đơn giản là phá tan mạng lưới dĩ thái để đem lại giải thoát và cho phép sử dụng một hình hài thích hợp hơn sau này.” (TCF, 115) “Chất dĩ thái thứ 4 này trong cuộc tuần hoàn thứ 4 và trên dãy thứ 4 này phải được hoàn toàn chế ngự và kiểm soát bởi Huyền giai nhân loại, Huyền giai sáng tạo thứ 4. Mỗi đơn vị thuộc gia đình nhân loại phải đạt đến sự chế ngự này, trước khi chấm dứt cuộc tuần hoàn này.” (TCF, 327) Cuộc tuần hoàn thứ 5 sẽ chứng kiến điểm thành đạt của Đấng Hành tinh Thượng đế Địa cầu, và cũng tương ứng như vậy với con người, xét ở mức độ nhỏ hơn. “Toàn thể nhóm nhân loại mới sẽ được đưa vào luân hồi trong hệ thống Địa cầu chúng ta. Ba phần năm nhân loại hiện nay đang ở trên Con đường Dự bị hoặc Con đường Điểm đạo, vào lúc đó sẽ tập trung tâm thức của họ một cách rõ rệt trên cõi trí, trong khi 2 phần 5 còn lại sẽ tập trung trên cõi cảm dục. 2 phần 5 này sẽ tạm thời chuyển vào trạng thái yên nghỉ (pralaya), chuẩn bị cho việc hoán chuyển của họ đến một hệ thống khác, vì hệ thống Địa cầu sẽ không còn là một nơi thích hợp để nuôi dưỡng họ nữa.” (TCF, 391) “Hệ thống Kim tinh đang ở trong cuộc tuần hoàn thứ 5, có nguyên khí trí tuệ tức nguyên khí thứ 5 phối kết và phát triển, 4 trạng thái trí tuệ thứ yếu được tổng hợp và trạng thái bồ đề được cung ứng bằng một phương tiện biểu lộ qua trung gian của nguyên khí thứ 5 hoàn hảo. Trong cuộc tuần hoàn thứ 5, Hành tinh Thượng đế chúng ta sẽ đạt được mức độ tiến hóa song song và nguyên khí thứ 5, như đã nói, không bao lâu nữa sẽ là đối tượng chú ý của Ngài về phần nhân loại… Con người đã phát triển trí tuệ trong cuộc tuần hoàn này vào căn chủng thứ ba, thứ tư và thứ năm và sử dụng trí tuệ đó để phát triển trực giác và tâm thức cao hơn trong căn chủng thứ 6 và thứ 7. Trong cuộc lâm phàm của một Hành tinh Thượng đế, trong một dãy hành tinh, ở một cuộc tuần hoàn, qua 7 trung tâm lực của Ngài hay các bầu hành tinh, Ngài biểu thị manas trên 3 bầu và sử dụng nó cho các mục tiêu đặc biệt trên 2 bầu cuối cùng.” (TCF, 376) Trong mỗi cuộc tuần hoàn, có một cõi phụ của cõi cảm dục vũ trụ được đưa vào kiểm soát, và tâm thức của Hành tinh Thượng đế sẽ mở rộng để bao hàm thêm cõi phụ đó. Hành tinh Thượng đế Địa cầu đang kiểm soát cõi phụ thứ 4 trên cõi cảm dục vũ trụ và sẽ hoàn toàn kiểm soát cõi phụ thứ 5 trong cuộc tuần hoàn thứ 5 của Ngài. II. CÁC CUNG ẢNH HƯỞNG TỚI NHÂN LOẠI TRÊN HỆ ĐỊA CẦU HIỆN NAY Những cung ảnh hưởng tới giới nhân loại trên hệ Địa cầu hiện nay: - Cung đang chi phối thái dương hệ chúng ta là cung 2 - Cung của Hành tinh Thượng đế Địa cầu—cung 2 và 3 - Cung của chính giới nhân loại—cung 4 và 5 - Cung của chủng tộc Arya đang biểu lộ—cung 5 - Cung của chu kỳ hiện nay—cung 6 đang đi ra và 7 đang vào biểu lộ “Con người là bốn được hoàn thiện gồm ba thấp và linh hồn. Diễn tả chân lý một cách thật đơn giản, hãy ghi nhớ rằng nhân loại, là giới thứ tư, vốn là một biểu lộ của huyền giai sáng tạo thứ tư của các Chân thần con người, được cuốn đi bởi bản năng hay xung lực hướng tới sự hài hòa, và như vậy chủ yếu ở dưới ảnh hưởng của cung 4. Sự hài hòa này được đạt đến nhờ việc sử dụng năng lượng của cung 5, cung kiến thức. Lúc bấy giờ nhờ kiến thức có được và được áp dụng, kết quả là sự mỹ lệ và năng lực sáng tạo. Lúc đó cung của Đấng chủ tể thứ năm sẽ được triệt thoái ra khỏi chu kỳ lớn chi phối nhân loại, và minh triết và đáp ứng trực giác cõi bồ đề sẽ là đặc trưng cho nhân loại. Có một sự tương tác chặt chẽ trong chu kỳ lớn này, liên quan đến nhân loại, giữa hai Đấng chủ tể cung Hài hòa và Đấng chủ tể cung Tri thức. Lần nữa, chính trong mối liên hệ bằng số này của 4 và 5 mà số 9 xuất hiện, vốn là con số của điểm đạo. Một vị adept ở mức điểm đạo thứ năm là Đấng đã đạt đến sự hài hòa hoàn toàn nhờ tri thức đúng đắn. Điều này xảy ra ở cuộc điểm đạo thứ tư và được thể hiện hay được chứng tỏ ở lần điểm đạo thứ năm.” (EPI, 347) Mỗi một giới trong thiên nhiên là hiện thân hay biểu lộ của một Thực thể. Đấng Thực thể truyền sinh khí làm linh hoạt gia đình nhân loại có linh hồn cung 4 và phàm ngã cung 5. Vì vậy, cung 4, cung 5 có vị thế ảnh hưởng chính và quan trọng nhất đối với gia đình nhân loại. “Có thể nói một cách tượng trưng rằng cung Chân ngã của Đấng đang làm linh hoạt gia đình nhân loại là cung 4 này, và cung phàm ngã là cung thứ năm, cung của tri thức qua phân biện, như nó được gọi, là cung Tri thức cụ thể hay Khoa học. Sự hài hòa qua xung khắc, và năng lực đạt tới tri thức qua sự lựa chọn phân biệt—đây là hai cung hay ảnh hưởng chính đang quét qua nhân loại nói chung, và thúc đẩy nhân loại hướng tới vận mệnh thiêng liêng của mình. Chúng là các yếu tố dẫn dắt mà một người có thể trông mong và tuyệt đối tin cậy vào. Chúng là sự bảo đảm cho việc thịnh đạt, nhưng cũng có sự rối loạn và tính hai mặt tạm thời. Sự hài hòa, tự biểu lộ trong vẻ đẹp và năng lực sáng tạo, đạt được qua tranh đấu, qua sự cố gắng và căng thẳng. Tri thức, cuối cùng tự biểu lộ qua minh triết, chỉ được đạt đến qua sự thống khổ của những lựa chọn được đưa ra liên tiếp. Những điều này, tuân theo trí thông minh có phân biện trong tiến trình của kinh nghiệm sống, cuối cùng tạo ra ý thức về các giá trị đích thực, viễn cảnh về lý tưởng và năng lực phân biệt thực tại ở sau huyễn tưởng đang chen vào.” (EPI, 343) III. CUNG 4, CUNG LINH HỒN CỦA NHÂN LOẠI 1. Những tương ứng về mặt số học, số 4, dẫn đến sự chỉnh hợp đặc biệt Sự tương ứng, tương đồng về mặt số học cần được lưu ý bởi nó cho ta thấy được những chỉnh hợp, liên hệ giữa các yếu tố của thế giới nguyên nhân bên trong sự biểu hiện của thế giới sắc tướng bên ngoài. Có một sự chỉnh hợp và linh hoạt đặc biệt của số 4 trong chu kỳ này. “Nốt của giới nhân loại, được ngân lên với cường độ gấp 4 trên bầu hành tinh này đã tạo ra các diễn biến kỳ diệu…: 1. Huyền giai sáng tạo thứ 4… Nhân loại 2. Hệ hành tinh thứ 4 ………… Địa cầu hệ chúng ta 3. Dãy thứ 4 …………………….Dãy địa cầu 4. Bầu thứ 4 …………………….Hành tinh chúng ta 5. Giới thứ 4 …………………….Nhân loại 6. Cuộc tuần hoàn thứ 4……… Cuộc tuần hoàn thứ 1 hoàn toàn của con người. 7. Bốn vị Kumaras …………… Các Đấng Biểu hiện của Nhân loại 8. Cõi thứ 4…………………… Cõi Bồ đề, mục tiêu của con người. 9. Dĩ thái thứ 4 ………………..Sự tương ứng vật chất của cõi Bồ đề.” (TCF,498) Chúng ta đang ở trong một thái dương hệ thuộc cấp đẳng thứ 4 và Đấng Hành tinh Thượng đế Địa cầu cũng đang chuẩn bị cho cuộc Điểm đạo vũ trụ (cuộc điểm đạo nhỏ) thứ 4 của Ngài. Những tương ứng kỳ diệu này tạo cho giới nhân loại một cơ hội rất lớn trong cơ tiến hóa của mình. “Cũng như Địa cầu được xem như điểm chuyển hướng hay chiến trường giữa tinh thần và vật chất, do đó vô cùng quan trọng, Thái dương hệ của chúng ta cũng chiếm một vị trí tương tự như thế trong hệ thống vũ trụ…” (TCF, 243) Sự chỉnh hợp giúp Hành tinh Thượng đế tuôn đổ sinh khí kích thích sự tiến hóa của các đơn vị nhân loại. Khi các tuyến lực được điều chỉnh, năng lượng được tương tác tự do, và một vận hà được chỉnh hợp thẳng giữa các trạng thái khác nhau của thiên tính, khi đó ta có sự thành tựu và mỹ lệ đạt đến. “Hệ thống tiến hóa này được xem như hệ thống thứ tư và là hệ thống quan trọng nhất trong thái dương hệ trong chu kỳ đặc biệt này vì các lý do sau : Thái dương hệ chúng ta được xem như thuộc đẳng cấp thứ tư và hệ thống hành tinh chúng ta là cái thứ tư theo thứ tự, tất nhiên là có thời cơ đặc biệt được cung cấp cho Hành tinh Thượng đế chúng ta nhờ sự chỉnh hợp xảy ra. Bên trong hệ hành tinh này, dãy hành tinh có liên quan đến chúng ta nhiều nhất và tạm thời có mức độ quan trọng thiết yếu nhất đối với Hành tinh Thượng đế là dãy Địa cầu, tức dãy thứ tư theo thứ tự, như vậy lần nữa, đem lại sự chỉnh hợp khác rất quan trọng. Lại nữa, bên trong dãy hành tinh, bầu hành tinh hiện đang nhận sự an trụ về mặt hành tinh, hay hiện nay đang biểu hiện theo một ý nghĩa đặc biệt sự sống của Hành tinh Thượng đế chính là Địa cầu, hành tinh thứ tư theo thứ tự. Điều này đem lại một sự chỉnh hợp còn xa hơn nữa. Thêm vào các sự kiện trên, một tri thức được thừa nhận, đó là, vì đây là cuộc tuần hoàn thứ 4 và chúng ta có một sự chỉnh hợp ngũ phân có ý nghĩa tối thượng đối với tất cả chúng ta, mặc dù ngay cả nó có ý nghĩa và sức mạnh to tát hơn trong căn chủng thứ tư và đem lại biến cố tâm linh kỳ diệu, đó là mở ra cánh cửa điểm đạo cho huyền giai nhân loại.” (TCF, 362) Cũng như vậy, ảnh hưởng của cung 4 xuyên qua sự chỉnh hợp này tới giới thứ 4 càng trở nên đặc biệt. “Cung thứ 4 về xung đột (xung đột với một quan điểm hài hòa cuối cùng) vào lúc này, không phải là một trong những cung đang biểu lộ, nhưng—trong ánh sáng của chu kỳ lớn hơn—cung này là một yếu tố kiểm soát chính trong sự tiến hóa của Trái đất chúng ta và trong sự tiến hóa của thái dương hệ chúng ta, vốn là một thái dương hệ ở cấp độ thứ tư. Sự nhận thức về việc này có thể cho thấy tại sao hành tinh nhỏ bé của chúng ta, Trái đất, có tầm quan trọng hiển nhiên như vậy trong thái dương hệ. Không chỉ vì chúng ta chọn để nghĩ như vậy, và do đó nuôi dưỡng thói kiêu ngạo của chúng ta, nhưng chủ yếu là do cung thứ tư về xung đột và định luật đầu tiên này—trong thời gian và không gian—đang thống trị các yếu tố trong giới thứ tư trong thiên nhiên, là giới nhân loại. Hành tinh của chúng ta, hành tinh thứ tư trong chuỗi biểu lộ thiêng liêng mà chúng ta được liên kết, có một mối quan hệ đặc biệt với vị trí của thái dương hệ chúng ta trong chuỗi các thái dương hệ cấu thành thể biểu lộ đối với Đấng Bất Khả Tư Nghị.” (EPII, 92) Cung 4 cùng với giới thứ 4 tạo thành một điểm hài hòa trong vũ trụ, hoàn thành sự chỉnh hợp, hoàn thành kênh dẫn để năng lượng bác ái—minh triết của Đấng Thái dương Thượng đế tuôn tràn xuống, qua đó hoàn thành nhiệm vụ thấm nhuần nguồn năng lượng này trong khắp thái dương hệ của Ngài. 2. Tổng quát về cung 4Bốn Đấng Thiêng liêng (The Holy Four) giáng xuống từ các cõi trời và mạo hiểm tiến về bầu Địa Cầu. Từ cõi lớn thứ tư, như thế các Ngài kiểm soát cuộc chiến. Vị Chủ tể Hài hòa, đang ngự trên cao, tuôn đổ tất cả sự sống và thần lực của Ngài qua khắp lãnh vực xung đột. Ngài thấy kết cuộc từ lúc bắt đầu, cũng không dừng lại bàn tay của Ngài dù là ngập sâu và đầy đau đớn và phiền não. An bình phải là mục tiêu. Mỹ lệ phải được đạt đến. Lúc đó Ngài không thể ngăn chận sự sống và chận đứng dòng chảy của nó.” (EPI, 345) Đoạn trích này mô tả tiến trình mà giới nhân loại—sự biểu lộ của Huyền giai sáng tạo thứ tư đạt tới mục tiêu của mình dưới sự dẫn dắt của Đấng Chúa tể cung 4. Chúng ta được biết rằng mỗi giới trong thiên nhiên là hiện thân của một Thực Thể—Sự Sống vĩ đại. Đấng Chúa tể cung 4 có một mối liên hệ tự nhiên với giới thứ 4. Ngài giúp tạo ra sự biểu lộ của nhân loại trên bầu Địa cầu. Ngài chi phối, làm linh hoạt giới thứ tư này. Ngài thúc đẩy nhân loại hướng tới vận mệnh thiêng liêng của mình theo cách thức của cung 4. Ngài dẫn dắt nhân loại vượt qua những cuộc chiến đấu, thử thách xung đột để tạo ra sự biểu lộ của các con của Thượng đế, mở ra cho con người cánh cửa đi vào giới thứ 5 của thực tại tinh thần. Và rồi những người con của Thượng đế lại tiếp tục sứ mệnh liên kết, bắc cầu, thúc đẩy, phụng sự sự tiến hóa của 3 giới dưới nhân loại—3 nhóm sự sống thấp hơn. Để cuối cùng, Bốn Đấng Cao, Bốn Đấng Giữa gặp nhau trong Bốn Đấng Thấp trên bầu Địa cầu, tạo nên một bức tranh mỹ lệ của sự hài hòa và hợp nhất vĩ đại. Mục tiêu thứ 4 của Thượng đế là Hài hòa, Mỹ lệ, Nghệ thuật. Đó là việc tạo ra sự Mỹ lệ, như một biểu lộ của Chân lý, dựa vào thiết kế về sự mỹ lệ trong kế hoạch ban đầu của Thái dương Thượng đế. “Chức năng chính của Đấng này là việc tạo ra sự Mỹ lệ (như một biểu lộ của Chân lý) qua sự tương tác tự do của sự sống và sắc tướng, dựa vào thiết kế về sự mỹ lệ trên kế hoạch ban đầu như nó tồn tại trong trí của Thái Dương Thượng Đế. Thể biểu lộ của Đấng này không được tiết lộ, nhưng hoạt động phát ra từ nó tạo ra sự phối hợp của các âm thanh, các màu sắc và lời nhạc, vốn diễn tả—qua hình thức của lý tưởng—cái vốn là ý tưởng khởi đầu.” (EPI, 25) “Màu sắc, nhưng hiện không có màu sắc nào được nhìn thấy. Âm thanh và Đấng vô thanh gặp nhau tại một điểm an bình vô hạn. Thời gian và Đấng phi thời gian phủ nhận những tư tưởng của con người. Nhưng thời gian không tồn tại.” (EPI, 70) Cung 4 là cung của vẻ đẹp và màu sắc, tinh tế và tao nhã. Màu sắc che giấu những phẩm tính trừu tượng của Thượng đế và nó biểu lộ tính chất thu hút của Sự sống. “Cung này là cung của trực giác và của việc làm hài hoà tất cả những gì đã được đạt đến qua hoạt động của sự sống hình tướng, khi được tổng hợp và được hấp thụ bởi các Thái dương Thiên thần sau này; cuối cùng nó biểu lộ như là tất cả những gì có thể được gợi lên và tiến hóa nhờ quyền năng của Sự sống duy nhất (Chân thần) hoạt động qua sự biểu lộ hình tướng. Đó là điểm gặp gỡ cho mọi năng lượng chảy qua Tam thượng thể tinh thần và tam nguyên thấp.” (EPII, 42) Cung 4 là cung được sinh ra đầu tiên ở các cung thuộc tính nên nó chia sẻ các tính chất của cung 1, nó biểu lộ Sự sống. Nó chịu sự kiểm soát của cung 2, và do vậy cũng chia sẻ tính nhạy cảm, bao gồm. Như thế, cung 4 đồng nhất các phẩm chất của cung 1 và cung 2 trong chính nó. Cung 4 là tác nhân tinh luyện, tạo sự hoàn thiện trong hình hài. Nó mang lại cho mọi hình hài những gì tạo ra sự mỹ lệ và hoạt động hướng tới việc tạo hài hòa đối với mọi tác động xuất phát từ thế giới nguyên nhân. Cung 4 là cung Ý chí đưa tới sự hài hòa. Cung 4 về cơ bản là năng lực thâm nhập vào chiều sâu của vật chất và biểu lộ thiên tính, tiết lộ Thánh đạo, liên kết tinh thần với vật chất. Nhờ đó sự hài hòa của tinh thần và vật chất được thể hiện, để cuối cùng đạt đến sự mỹ lệ của thiên khải. 3. Phương pháp hoạt động của cung 4 Các phương pháp hoạt động của cung 4: - Làm hoàn thiện hình hài qua sự tương tác tập thể. - Kích thích Thái dương Thiên thần, hay nguyên khí trí tuệ. - Năng lượng trực giác hay bồ đề. (EPI, 416) Cung 4 là cung Hài hòa thông qua Xung đột, nó tìm kiếm hòa bình qua tranh đấu. Nguyên tắc Xung đột là một biểu hiện của hoạt động của cung 4. Loại năng lượng đặc biệt này dẫn đến hiệu quả khai mở là sự Hài hòa, cân bằng, hợp nhất, từ đó dẫn đến sự giải thoát. Nó tạo ra những xung đột đối nghịch, căng thẳng, biết chúng, nhận ra chúng; nó thâm nhập vào các chiều sâu thẳm để tìm kiếm phương cách hòa giải những mặt đối lập đó, vượt qua chúng, để đạt được sự cân bằng và hợp nhất. Sự tiến bộ tăng trưởng thông qua sự đáp ứng của những cực đối nghịch. “Cung này được gọi là “cung đấu tranh” vì ở trên cung này, các tính chất rajas (hoạt động) và tamas (trì trệ) tương đương về tỷ lệ một cách kỳ lạ, đến nỗi bản chất của người cung 4 bị giằng xé do sự chiến đấu của chúng, và khi được vừa ý, kết quả được nói đến như là “Sự Giáng sinh của Horus”, của Christ, được sinh ra từ các cơn đau dữ dội của sự đau đớn và thống khổ triền miên.” (EPI, 206) “Nguyên tắc Xung đột là tác nhân của Nguyên tắc Hài hòa và tạo ra những căng thẳng và những cố gắng, cuối cùng sẽ đưa đến sự giải thoát.” (RI, 639) Sự nhất quán trong hoạt động của cung 4 được tạo ra nhờ một quá trình hợp nhất thông qua sự điều chỉnh hài hòa của tất cả các yếu tố trong một tổng thể. Trong cuộc chiến của xung đột, tất cả các yếu tố đối lập cao/thấp, trong/ngoài, tốt/xấu, tinh thần/vật chất,… đều được bao gồm và hợp nhất. Khi sự hợp nhất nội tại đã được thực hiện thì cuộc chiến bên ngoài chấm dứt. “Không có trận chiến nào. Buộc xung đột lắng xuống; gửi cho lời thỉnh nguyện cho hòa bình của tất cả; từ hai, hãy tạo một đạo quân của Chúa ; hãy để chiến thắng trao vương miện cho những nỗ lực của Đấng Thế Tôn bằng cách hài hòa tất cả. Hòa bình nằm sau năng lượng chiến tranh.” (EPII, 37) “Thiên thần của Đấng Hiện diện đứng trong vẻ đẹp hiếm có của Ngài trên Con đường được thắp sáng. Ánh sáng rực rỡ của Đấng Hiện diện tuôn đổ khắp chiến trường và kết thúc sự xung đột trong hòa bình. Người chiến binh đứng xuất lộ. . Công việc của y đã xong. Thiên thần và Chiến binh đứng lưng áp lưng, hào quang của họ gặp nhau trong một bầu ánh sáng. Cả hai là một. Tiếng Nói phát ra:– Sự hài hòa được khôi phục và vẻ đẹp của Chúa Bác ái tỏa sáng. Đó là Thiên cơ. Tổng thể được tiết lộ như thế. Cái cao và cái thấp gặp nhau; sắc tướng và vô sắc tướng hợp nhất và pha trộn, và biết chúng là một. Trong sự hòa hợp với mọi linh hồn đoàn kết, tôi phụng sự Thiên Cơ.“ (EPII,47) Đấng Hiện diện là Chân thần chưa xuất lộ. Thông qua Thiên thần của Đấng Hiện diện mà ánh sáng rực rỡ của Đấng Hiện diện có thể được nhìn thấy. Thiên thần trong mờ để cho Ánh sáng của Chân thần được nhìn thấy như một ánh sáng rực rỡ. Người Chiến binh là Chân thần mở rộng đang hoạt động thông qua linh hồn cung 4. Cuộc chiến kết thúc trong hòa bình. Công việc của Người Chiến binh hoàn thành. Thiên thần và Chiến binh hợp nhất, cả hai là một. Các cặp đối lập mà Thiên thần của Đấng Hiện diện và Người Chiến binh đại diện được hợp nhất như hai khía cạnh của sự Toàn thể. Sự hài hòa được khôi phục. Chân thần xuất lộ. Nguyên tắc Xung đột tiềm tàng trong mỗi nguyên tử vật chất. Xung đột tạo ra các điểm khủng hoảng, tiếp đó là một điểm nhất tâm (point of tension), và cuối cùng một điểm xuất hiện. Điểm khủng hoảng—điểm nhất tâm—điểm xuất hiện là mô tả của quá trình hoạt động của cung 4 với tác động của Nguyên tắc Xung đột như là tác nhân chủ xướng cho sự hài hòa cuối cùng được đạt tới. “Đó là Nguyên tắc Xung đột, tiềm tàng trong mỗi nguyên tử vật chất, trước hết tạo ra Xung đột, kế đó sự từ bỏ, và cuối cùng là sự giải phóng; nó tạo ra chiến tranh dưới hình thức này hoặc hình thức khác, kế đó loại bỏ, và cuối cùng là sự giải thoát. … Có một ý nghĩa huyền linh sâu xa đối với ý tưởng, thường được bày tỏ, rằng cái chết là Tác nhân giải thoát vĩ đại; nó có nghĩa là Nguyên lý Xung đột đã thành công trong việc mang lại các tình trạng mà trong đó trạng thái tinh thần được giải phóng (tạm thời hoặc vĩnh viễn) khỏi sự giam cầm trong một loại sự sống sắc tướng nào đó, hoặc thuộc về cá nhân hoặc thuộc về tập thể.” (RI,607) Cung 4 chịu trách nhiệm cho các căng thẳng, cho sự xung đột ban đầu giữa cặp đối hợp chính là tinh thần và vật chất. Xung đột tạo ra chiến tranh, từ đó dẫn đến sự từ bỏ và cuối cùng là giải thoát. “Sự xung đột luôn luôn hiện hữu trước sự từ bỏ, và chỉ ở bước ngoặt tinh thần lớn thứ tư này mà sự xung đột, như chúng ta hiểu, mới kết thúc.” (RI, 608) “Đây là những điều sâu xa mà chúng ta nói đến, thật là khôn ngoan mà nhớ rằng tất cả các bước ngoặt (crises) trong thế giới vật chất—các bước ngoặt cá nhân và các bước ngoặt có liên quan đến nhân loại nói chung—đều bị chi phối bởi Nguyên tắc Xung đột” (RI, 604) “Nguyên tắc Xung đột là yếu tố chính nằm đằng sau sự tiến hóa của hình hài với vai trò là lĩnh vực kinh nghiệm cho linh hồn trong bốn giới của thiên nhiên: là nhân loại và ba giới dưới nhân loại. Nó được dựa trên yếu tố phân biện về trí tuệ vốn có sẵn trong nguyên tử vật chất nhỏ nhất, và nó đạt đến sự biểu lộ đầy đủ nhất nơi nhân loại tiến hóa;” (RI, 609) Nguyên tắc Xung đột là một sự tất yếu tinh thần và được dùng như là một công cụ dẫn đến những quyết định đúng đắn và thoát khỏi mọi nguyên tắc, kiểm soát sai trái. Xung đột khiến người ta phải thâm nhập vào các chiều sâu để tìm kiếm giải pháp, thức tỉnh, quyết định lựa chọn và từ bỏ. Ta có thể nhận thức điều này qua những cuộc đấu tranh trong nội tâm con người, cũng như những cuộc chiến tranh biểu hiện ở bên ngoài thế giới loài người. “Đó là cung Hài hòa hay Mỹ lệ - Hài hòa nhờ sự kiềm chế, sự kiềm chế đó đưa đến tri thức minh triết. Đó là hài hòa của sự đồng dạng; đó là việc làm cân bằng của vạn vật nhờ nhận thức về các định luật từ điện vốn tạo ra sự phối kết của cái số nhiều đa dạng thành cái đơn nhất thuần nhất; hiện tượng từ tính chi phối sự tổng hợp của nhiều trạng thái thành một hình thức thống nhất.” (TCF,585) Năng lực thiêng liêng của trí tưởng tượng của cung 4 dẫn tới sự thôi thúc tới sự sống sáng tạo, tạo ra sự thống nhất và vẻ đẹp, có được qua xung đột. Hình hài được kiến tạo, đạt tới vòng giới hạn của nó rồi phải được phá hủy. Và như vậy cung 4 làm hoàn thiện hình hài qua các tương tác tập thể. Đồng thời, nó tiết lộ thế giới ý nghĩa ẩn sâu trong hình hài. “Điều này, ở khía cạnh hình tướng, dẫn đến chiến tranh, đấu tranh và xây dựng các hình tướng vốn sau này phải được phá huỷ. Ở khía cạnh sự sống, nó dẫn đến tính chất, sự sáng chói rung động và sự tiết lộ thế giới ý nghĩa trên trần gian.” (EPII, 223) Cung 4 tác động qua trung tâm lực tim trong tiến trình khai mở của nó. Xung đột tạo ra sự giải thoát dẫn đến trạng thái cân bằng, hài hòa, và như thế một sự chỉnh hợp được đạt tới để năng lượng bác ái có thể tuôn đổ xuống cõi trần thông qua bí huyệt tim của giới nhân loại, bí huyệt tim của hành tinh mà không bị cản trở. “Sự chỉnh hợp này hiện ở trong tiến trình được thực hiện; nó sẽ được mang lại một cách tự động khi hiệu quả của Nguyên tắc Xung đột trong việc tạo ra sự giải thoát được nhận biết một cách rộng rãi. Như thế, tâm của con người, tâm của hành tinh, tức là Thánh Đoàn, và tâm của Thánh Đoàn, là Đức Christ, đang ở trong một trạng thái tiếp xúc tích cực; khi vận hà này mở ra và không bị cản trở, lúc đó Đức Christ sẽ đến. Không gì có thể ngăn chận sự xuất hiện của Ngài và—theo thiên luật—Ngài không thể quay lưng lại với cơ hội được đưa đến.” (RI, 618) “Như vậy, cuối cùng, Vị Chúa Bác Ái—để đáp ứng với tiếng khấn nguyện của nhân loại, được gợi lên bởi Nguyên tắc Xung đột—phải “lại tiến đến nơi cao cả của sự hy sinh và bước đi một cách công khai với con người trên Cõi trần”. Tâm của Ngài, hiện thân cho tình thương của Thượng đế, như nó vẫn là thế, được rút ra khỏi tâm của hành tinh (Thánh Đoàn) đến tâm của con người, và con đường trở lại của Ngài để phụng sự Trần thế vẫn không bị thách thức và không bị cản trở. Một lần nữa, theo thiên luật, một sự lạc quan sâu sắc được sinh ra và có thể được phát triển một cách đúng đắn.” (RI, 619) 4. Cung 4—cung linh hồn của nhân loại a. Linh hồn, cung linh hồn, mô hình linh hồn Linh hồn là gì? Chân sư DK cho chúng ta biết một số định nghĩa ngắn gọn về linh hồn. “- Linh hồn là con của Thượng Đế, sản phẩm của sự kết hợp của tinh thần và vật chất. - Linh hồn là một hiện thân của thể trí hữu thức, sự biểu lộ, nếu người ta có thể diễn đạt nó như thế, của ý thức sáng suốt thiêng liêng. - Linh hồn là một đơn vị năng lượng, rung động hòa hợp với một trong bảy Đấng Chủ quản Cung, và được nhuốm màu bằng ánh sáng đặc biệt của cung.” (EPI, 42) Như vậy, linh hồn là sự tổng hợp năng lượng vật chất với tinh thần, được ban phẩm tính bởi tâm thức sáng suốt, và được phẩm định bởi một trong bảy loại cung. Linh hồn là hiện thân của mục đích hay ý chí thiêng liêng của công việc sáng tạo vĩ đại, được tạo ra nhờ quyền năng bác ái. Linh hồn sáng tạo ra các hình tướng dựa trên ước muốn hoặc mong muốn biểu lộ, rồi qua khí cụ đó nó trải nghiệm trong các cõi thấp, nhận thức, thu về các kinh nghiệm để biểu lộ và mở rộng chính nó. Từng bước một, nó thực hiện sự tiếp cận đến mục tiêu của sự hiểu biết hữu thức và sáng suốt, từ từ chế ngự vật chất, bắt vật chất khuất phục mục đích thiêng liêng và làm cho cơ cấu của bộ máy hiểu biết và tiếp xúc ngày một thích hợp hơn. Linh hồn có bản năng phụng sự và bản chất của nó là bác ái. Cung linh hồn đem lại tâm thức tập thể, nó tác động trực tiếp trên thể cảm dục, nó làm cho sự hiện hữu của nó có thể được cảm nhận xuyên qua thể cảm dục. “Cung linh hồn bắt đầu làm cho sự hiện hữu của nó được cảm nhận một cách tích cực, xuyên qua thể cảm dục, ngay khi sự chỉnh hợp đã được đạt tới. Tiến trình như sau: a/ Nó (cung linh hồn) tác động lên thể cảm dục ở bên ngoài. b/ Nó (cung linh hồn) kích thích nó (thể cảm dục) ở bên trong tới kích thước, màu sắc và tính chất lớn hơn. c/ Nó (linh hồn) đưa nó (thể cảm dục) và mọi phần của sự sống vật chất vào hoạt động và ở dưới sự kiểm soát.” “Cung linh hồn đem lại tâm thức tập thể và sự tách biệt với các hình tướng bên ngoài, tạo nên việc ràng buộc với khía cạnh sự sống của biểu lộ, và với tổng thể chủ quan.” (EPI, 407) Mô hình linh hồn là mục tiêu dẫn dắt, vòng giới hạn, vận mệnh áp đặt lên sự sống sắc tướng. “Mô hình linh hồn. Mô hình này là mục tiêu dẫn dắt, là vòng—giới—hạn, hay vận mệnh, mà nguyên khí bất tử, tức Thái dương Thiên thần, cuối cùng và rất lâu sau trong thời gian, thành công trong việc áp đặt lên sự sống sắc tướng.” (EPI, 391) b. Mục tiêu, vận mệnh, nhiệm vụ của nhân loại được dẫn dắt qua cung linh hồn Giới nhân loại có linh hồn cung 4, cung của Hài hòa qua Xung đột, như vậy, mục tiêu dẫn dắt hay vòng giới hạn của mô hình linh hồn này là thông qua đấu tranh để tạo ra sự hài hòa giữa sắc tướng và sự sống, hay giữa vật chất và tinh thần, cuối cùng biểu lộ được vẻ đẹp mỹ lệ của thiên khải. Linh hồn cung 4 sử dụng các phương pháp, kỹ thuật và chất liệu như bảng sau: (EPII, 83) ^Cung^Năng lượng ^Kỹ thuật ^Tính chất ^Nguồn ^ |4 |> Mỹ lệ hay Nghệ thuật|Nhất quán|Thống nhất|> Các hình tướng được điện hóa một cách hài hòa| Năng lượng nhất quán của cung 4 về cơ bản là một lực chữa bệnh vốn sẽ mang mọi hình tướng tới một sự hoàn hảo cuối cùng nhờ năng lực của sự sống nội tại. “Thượng Đế sẽ tiếp tục hoàn thiện các hình tướng trong giới thứ tư trong thiên nhiên qua phương tiện của những người có tâm thức là tâm thức của giới thứ năm.” (EPII, 254) Do là một trong bốn cung thuộc tính nên cung linh hồn của giới thứ 4 chịu trách nhiệm cho việc khai mở các tính chất của Thượng đế. Đối với giới thứ 5, cung của nó là cung 2, thuộc cung trạng thái nên nó sẽ chịu trách nhiệm khai mở mục tiêu, mục đích của Thiên ý, Thiên cơ. “Trước tiên các cung trạng thái tạo ra việc khai mở Thiên cơ. Các cung thuộc tính tạo ra việc khai mở các tính chất của Thượng đế.” (EPI, 353) Sự hài hòa qua xung khắc và năng lực đạt tới minh triết qua sự lựa chọn phân biệt là các yếu tố dẫn dắt nhân loại và thúc đẩy nhân loại tới vận mệnh thiêng liêng của mình. Sự hài hòa, mỹ lệ tự biểu lộ trong vẻ đẹp và năng lực sáng tạo, sẽ đạt được qua tranh đấu, căng thẳng, qua sự thống khổ của những lựa chọn bắt buộc phải được đưa ra. Năng lượng cung 4 chịu trách nhiệm cho nỗ lực của giới nhân loại trong việc tạo hài hòa cho mọi yếu tố, mọi xung đột bên trong các ranh giới của nó, để cuối cùng biểu lộ sự mỹ lệ. Mục tiêu chính trong Huyền giai sáng tạo thứ 4 là hợp nhất hoặc hoà nhập khía cạnh tinh thần cao hơn với bản chất thấp hơn. “Mục tiêu của chúng ta là làm hài hòa các trạng thái, hay các nguyên khí, cao và thấp, cả trong cá nhân lẫn trong toàn thể. Điều này bao hàm sự xung đột và đấu tranh, nhưng sau rốt tạo được sự mỹ lệ, năng lực sáng tạo trong nghệ thuật, và sự tổng hợp. Kết quả này đã sẽ không thể có được nếu không dành cho công việc mạnh mẽ của cung 5, Cung Tri thức cụ thể mà—khi liên kết với cung 4—tạo ra hình ảnh của thiên tính mà chúng ta gọi là một con người.” (EPI, 320) “Dường như một trong những chức năng chính yếu của giới Nhân loại là xây dựng cầu nối giữa thể thanh và thể đặc—và (trên vòng xoắn ốc cao hơn của linh hồn), là giữa trực giác và hạ trí (trực giác nằm ở phân cảnh giới thứ 4 của cõi Hồng trần Vũ trụ tính từ trên xuống, và hạ trí nằm ở thể phân cảnh giới thứ 5 của cõi Hồng trần Vũ trụ. Toàn bộ câu chuyện về sự tiến hóa của con người là câu chuyện về việc xây dựng cây cầu tâm thức–antahkarana.”1 Với biểu tượng cây cầu, trung gian kết nối, giới nhân loại có chức năng kết nối ba giới cao với ba giới thấp trong thiên nhiên. Và như thế, cung 4 cùng với giới thứ 4 tạo thành một khoen nối, một điểm bắc cầu mang lại sự hài hòa cho bức tranh hay bản nhạc của Thượng đế được hoàn thiện. Đây là một đóng góp quan trọng của giới thứ 4 trong diễn trình tiến hóa. “Vào ngày đó, các linh hồn được sinh ra. Một giới biểu lộ mới đã xuất hiện, và ba cõi cao nhất và ba cõi thấp được đưa vào một giao điểm tế nhị.” (EPI, 78) Cũng giống như trong cấu tạo của một cá nhân con người, giữa hạ trí và thượng trí có một khe hở, cần một cây cầu để nối liền khoảng trống đó, giới nhân loại cũng được đặt sẵn một mục tiêu cho sự xuất hiện của nó là trở thành một cây cầu antahkarana nối liền khoảng trống tâm thức giữa 3 giới cao với 3 giới thấp. Ở đây ta có thể nhận ra sự tương đồng như việc hy sinh của các Đấng Thái dương Thiên thần cho giới nhân loại, giới nhân loại có lẽ cũng có một vai trò như vậy, một sự hy sinh như vậy đối với 3 giới dưới nó, để cho sự liên tục của 7 trạng thái tâm thức từ thấp tới cao của cơ tiến hóa có thể diễn tiến liền mạch. Điều đó cũng giải thích tại sao cung 4 lại chi phối giới nhân loại trong một chu kỳ dài cho đến tận 2 cuộc tuần hoàn sau cuộc tuần hoàn thứ 4 này. Năng lượng cung 4 truyền chuyển qua hành tinh Thủy tinh. Vì thế giới nhân loại chịu sự chi phối của Thủy tinh, ngôi sao chủ về trí tuệ, trực giác. Trong thần thoại, Thủy tinh là biểu tượng của thần Mercury, sứ giả, vị thần làm công tác truyền tin giữa các giới với đôi cánh ở chân. Ta lại thấy đây là một biểu tượng tương đồng về sự kết nối. “Ngay cả trong cây cầu được hoàn thành cuối cùng này—vào cuối chu kỳ thế giới—một ánh sáng và màu sắc cung sẽ chiếm ưu thế, là cung 2, với cung 4 là cung phụ. Cung 4 có thể được gọi một cách biểu tượng là “cáp chính” đối với nhân loại, bởi vì nó là nốt chủ đạo của Huyền giai sáng tạo thứ tư.” (RI,505) “Trong mọi tác phẩm huyền môn, cần cho thấy tính tổng hợp và tính liên tục của toàn bộ diễn trình tiến hóa, vì chỉ khi con người đánh giá đúng vị thế của mình, là ở giữa ba giới cao và ba giới thấp, thì ý nghĩa thực sự của sự đóng góp của giới thứ tư cho toàn bộ kế hoạch tiến hóa mới xuất hiện.” (EPI, 222) Cung 4 cùng với 3 cung thứ yếu tổng hợp thành cung 3. Giới thứ 4 cũng có vai trò tương tự như thế khi nó tổng hợp 3 giới dưới nhân loại cùng với nó để tạo thành giới thứ 5, giới siêu nhân loại. Thiên giới sẽ trở thành hiện thực trong và thông qua giới nhân loại. 1 Tapestry of God, Vol I, M.Robbin. “Theo một cách tinh tế và đặc biệt, bốn cung này kiểm soát bốn giới của thiên nhiên—khoáng vật, thực vật, động vật và con người—và ở sự hòa nhập của chúng vào cung 3 trạng thái có một tương ứng với sự hòa nhập của con người (sản phẩm của ba giới với giới thứ tư) thành giới siêu nhân loại, tức giới tinh thần. Cung 4 và giới thứ tư hợp thành một điểm hài hòa đối với ba cung thấp và cả 4 lúc đó chuyển vào ba cung chính hay cao. Điều này đáng cho chúng ta suy gẫm nghiêm túc, vì sự tương đồng của cõi thứ tư cũng sẽ rõ rệt. Đối với thái dương hệ này, cõi bồ đề, giới nhân loại, và cung 4, cung Hài hòa hay Mỹ lệ hay Tổng hợp, có một điểm tương ứng, giống như căn chủng thứ tư là căn chủng mà sự tổng hợp được quan sát trước tiên trong đó—cánh cửa dẫn vào giới thứ 5, tức giới Tinh thần, lúc bấy giờ được mở ra” (TCF, 588) Trong mục tiêu phát triển của mình, hình hài động vật của mỗi đơn vị nhân loại phải nhường chỗ cho ý chí mạnh mẽ của thực thể tâm linh, phải được giải thoát khỏi các giới hạn hình hài bằng lửa của sự sống và của điểm đạo. Như thế con người hòa hợp trong chính mình mọi cách tiếp cận và giải thoát, mọi sự thành đạt, đồng thời tổng hợp các hoài bão của cả ba giới dưới mà y được coi là đại thiên địa với chúng. Đối với Kế hoạch của Thánh đoàn, có thể thấy nhân loại trong chu kỳ này và trên hành tinh này được dự định với những mục tiêu sau: “Mục tiêu đầu tiên và mục tiêu chính là thiết lập, qua trung gian nhân loại, một tiền đồn của Tâm thức Thượng đế trong thái dương hệ. Để đặt nền móng trên trái đất một nhà máy điện uy lực lớn và một tiêu điểm năng lượng đến nỗi nhân loại—nói chung − có thể là một yếu tố trong thái dương hệ, mang lại những thay đổi và các biến cố có một tính chất độc đáo trong sự sống hành tinh và các sự sống (và do đó trong chính thái dương hệ) và gây nên một hoạt động giữa các vì sao. Phát triển một trạm ánh sáng, qua trung gian của giới thứ tư trong thiên nhiên, đó sẽ không chỉ phục vụ hành tinh, và không chỉ phục vụ thái dương hệ đặc biệt của chúng ta, mà còn phục vụ bảy thái dương hệ mà thái dương hệ chúng ta là một trong đó. Để thiết lập một trung tâm từ tính trong vũ trụ, trong đó giới nhân loại và giới linh hồn sẽ, được thống nhất hoặc được nhất quán, là điểm của năng lực mãnh liệt nhất, và vốn sẽ phục vụ cho các Đấng đã phát triển trong phạm vi ánh sáng chói lọi của Đấng Bất Khả Tư Nghị.” (EPII, 217) Năng lượng bồ đề của cung 4 giúp giới nhân loại khai mở trạng thái hay tính chất trí tuệ thuần khiết còn được gọi là trực giác. “Trong giới thứ tư, tính chất đang xuất hiện là trạng thái bác ái hoặc sự hiểu biết tổng hợp, vốn là trực giác. Trực giác này là một tính chất của chất thượng trí, và của “chitta” hay chất hạ trí. Con người cũng được dự định trở nên phát xạ; hương trầm hoặc hương thơm của đời sống của y phải thăng lên, và nhờ thế thu hút sự chú ý của các yếu tố khai mở đang chờ dẫn y đến sự giải thoát.” (EPI, 200) Giới nhân loại, qua tính chất trung gian, bắc cầu của cung 4, tìm thấy lĩnh vực phụng sự của mình như là một nơi tiếp nhận và phân phối năng lượng thiêng liêng, trong sự chăm sóc các hình thức khác của Sự sống thiêng liêng được biểu hiện bởi ba giới dưới nhân loại, trong việc dẫn dắt giới động vật hướng tới sự giải thoát. “Đằng sau cái bề ngoài của các động vật, người ta sẽ thấy một sự định hướng đều đặn tới sự hiểu biết, và một sự thu hút tất nhiên hướng tới các hình thức sự sống vốn thể hiện những gì mà chúng ưa thích. Đó là ảnh hưởng của cung 5, cung Kiến thức Cụ thể, đang tuôn đổ qua gia đình nhân loại lên trên giới thứ ba trong thiên nhiên. Con người là yếu tố khai mở ở đây, và con người được giao phó nhiệm vụ dẫn dắt giới động vật hướng tới sự giải thoát—một sự giải thoát vào giới thứ tư, vì đó là lĩnh vực hoạt động sắp tới của nó.” (EPI, 198) “Con người có các cội nguồn của mình trong cả ba giới; tất cả đã đóng góp vào thiết bị của y. Con người là đại—thiên—địa của tiểu—thiên—địa thấp kém hơn; con người là mắc xích đang nối liền ba giới thấp với ba giới cao. Hãy luôn nhớ rằng dấu hiệu của sự khai mở tinh thần của con người nằm trong năng lực của y để bao gồm trong tâm thức của y không chỉ cái gọi là các giá trị tinh thần và năng lực phản ứng với sự tiếp xúc linh hồn, mà còn bao gồm các giá trị vật chất, và phản ứng một cách thiêng liêng với các sức mạnh được che giấu khỏi y, trong sự chăm sóc của các hình thức khác của sự sống thiêng liêng, được tìm thấy trong ba giới dưới nhân loại.” (EPI, 231) “Công việc của con người với các động vật có các kết quả mạnh mẽ, cuối cùng sẽ dẫn đến việc tái mở cánh cửa vào giới nhân loại. Một số công việc đã được con người làm đã vượt xa sự mong đợi thiêng liêng, và có thể đảm bảo việc đẩy nhanh Thiên cơ.” (EPI, 251) c. Nguyên tắc Xung đột - nguyên tắc Hài hòa là nguyên nhân nỗi thống khổ cũng như niềm hy vọng vinh quang của gia đình nhân loại trên Hành tinh Địa cầu “Đau khổ là nỗ lực hướng thượng lớn lao thông qua vật chất, nó đưa một người đến Chân của Thượng đế; Đau khổ là đi theo con đường đối kháng lớn nhất, và bằng cách đó mà lên đến đỉnh núi; Đau khổ là việc đập bỏ hình tướng và việc đến với ngọn lửa bên trong; Đau khổ là cái lạnh lẽo của cô lập, dẫn đến sự ấm áp của mặt trời trung ương;” (TWM, 533) Bầu hành tinh Địa cầu được gọi là “bầu phiền não” bởi sự thống trị của những áp lực, căng thẳng lên nó. Đó là bầu thứ 4 của dãy hành tinh, bầu mà vật chất trọng trược đã phát triển đến mức đỉnh điểm. Cội nguồn của nỗi thống khổ này có thể được thấy liên quan đến Đấng Hành tinh Thượng đế mà bầu này chính là hiện thể vật chất của Ngài, trong việc Ngài đang ở trên “thập giá hình” và chuẩn bị cho cuộc điểm đạo thứ tư. Huyền lực của Chúa tể cung 4 là quan trọng cho cuộc điểm đạo này. “Liên quan với Hành tinh Thượng đế của hệ thống chúng ta, ở đây cần phải nói thêm rằng: a. Ngài đang lâm phàm trong vật chất. b. Ngài đang ở giữa đường trên Con đường Điểm đạo Vũ trụ, và kết quả là nhận được lần điểm đạo thứ tư trong dãy này. Do đó, bầu này có thể được xem như là bầu phiền não, vì qua nó, Đức Hành tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua điều mà huyền bí học gọi là “Thập giá hình”. c. Các tế bào trong cơ thể Ngài—các tế bào mà qua đó Ngài cảm nhận và thu thập kinh nghiệm—trong chu kỳ thế gian này, đang bị khổ đau cấu xé, vì tâm thức của Ngài là tâm thức ở trung tâm cơ thể và khả năng của chúng là khả năng chịu đựng đau khổ, để cho, nhờ có chúng, Ngài mới có thể học được ý nghĩa vô dục của thái dương hệ, mới được tách khỏi mọi hình hài và bản chất vật chất, và dựa vào thập giá vật chất, sau rốt tìm được giải thoát và tự do của Tinh thần.” (TCF, 384) Cuộc lâm phàm chính yếu là cuộc lâm phàm mà trong đó một Hành tinh Thượng đế nhận một cuộc điểm đạo nào đó. Như trường hợp hiện nay, Hành tinh Thượng đế Địa cầu đã lấy một hiện thể bằng chất dĩ thái, Ngài đang chuẩn bị cho cuộc điểm đạo thứ yếu thứ 4 trong vòng tuần hoàn 4 và tiếp tục là một cuộc điểm đạo chính yếu khác trong vòng tuần hoàn 5 sau này. Điều này dẫn đến các cuộc trắc nghiệm và thử thách khủng khiếp gắn liền với sự sống của hành tinh chúng ta trong chu kỳ này. “Trong vòng tuần hoàn thứ tư này, do đó, có thấy được tại sao luồng hỏa ở đáy xương sống (xét nó theo ý nghĩa nội môn của nó, có liên quan tới Thượng Đế và các Thượng Đế chớ không liên quan với con người) như thế đóng một vai trò vượt trội trong việc kích thích Tứ thể của Thượng Đế, hoặc của Phàm Ngã của Ngài. Ở đây, người ta tìm thấy cái bí ẩn của tà lực hiện nay, cội nguồn của thống khổ hiện tại và nền tảng của kinh nghiệm hành tinh… Cái phiền toái trong hành tinh chúng ta và cũng là cái hy vọng cho hành tinh chúng ta, nằm trong chính sự kiện này. Bí huyệt dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta làm bằng chất liệu của chất dĩ thái vũ trụ thứ tư (cõi bồ đề) hiện đang kích thích tứ hạ thể của Ngài, tức ba cõi nỗ lực của nhân loại chúng ta.” (TCF, 649) “Hành tinh Thượng đế Địa cầu đang kiểm soát cõi phụ thứ 4 trên cõi cảm dục vũ trụ và gần hoàn thành” (TCF, 291) Ngài “đang tập trung lực ở luân xa xương cùng, công việc chuyển sang luân xa đan điền mới đang phôi thai” (TCF, 298) Các đơn vị hữu thức của giới nhân loại hợp thành tế bào trong cơ thể của Hành tinh Thượng đế nên tất nhiên phải chịu ảnh hưởng, trải qua khổ đau bởi Ngài đang thông qua phương cách đó để tăng khả năng chịu đựng và tìm kiếm sự giải thoát khỏi hình hài trọng trược ở cấp độ tâm thức, kinh nghiệm hành tinh của Ngài. Cũng thông qua đau khổ mà con người tăng trưởng năng lực chịu đựng của mình, từng bước mở rộng lĩnh vực tiếp xúc, phạm vi ảnh hưởng, lĩnh vực hoạt động hữu thức; từng bước tiến lên trên con đường của tiến trình tự biểu lộ và tự nhận thức về mình chính là Bản ngã duy nhất hay là Đứa Con của Thượng đế đi hoang đang trên con đường trở về nhà. Những cuộc khủng hoảng của nhân loại thường xuyên xảy ra như một điều tất yếu. “Điều này tạo ra sự biểu lộ của nhân loại trên bầu hành tinh thứ tư của dãy Địa cầu chúng ta, và trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, chịu trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng ghê gớm mà nhân loại hiện nay của chúng ta đang phải đối phó. Khía cạnh xung đột của diễn trình đang ở đỉnh cao của nó, đúng ra là, đã đi qua đỉnh cao của nó, từ góc độ của sự biểu lộ ở cõi trần.” (EPI, 344) “Cần phải thêm vào sự tiếp cận với ý định và mục tiêu của Hành tinh Thượng đế này là việc xem xét về vài bước ngoặt trong đời sống của nhân loại trong bản chất của các cuộc điểm đạo nhỏ mà Hành tinh Thượng đế đã đưa chính Ngài vào đó, theo ý nghĩa rằng Ngài là Đấng điểm đạo. Nhân loại, là sản phẩm tiến hóa phát triển cao nhất trên hành tinh chúng ta, phản ứng với các cuộc điểm đạo này; họ tạo ra các biến cố thế giới, và những điểm khủng hoảng kỳ diệu mà (cho đến bây giờ) đã tác động có tính cách phá hoại nơi mà phương diện hình hài có liên quan, nhưng đã phát triển thành các giai đoạn khai mở và tiến triển nhạy cảm khi công việc của các Đấng kiến tạo (trạng thái thiêng liêng thứ hai) được thêm vào, và lợi dụng sự tự do hoặc sự giải thoát được mang lại bởi Đấng hủy diệt (trạng thái thứ nhất). Luôn luôn có hai giai đoạn này.” (RI, 658) Khi mỗi một đơn vị tâm thức trong nhân loại nhờ nỗ lực đạt đến mục tiêu giải thoát của mình, thì nó cũng dẫn đến một thành tựu nhỏ nhưng rõ rệt cho Hành tinh Thượng đế. Khi mọi tế bào trong cơ thể Ngài thành đạt, Ngài cũng thoát khỏi sự biểu lộ trọng trược và được giải thoát khỏi luân hồi. “Khi mỗi một đơn vị tâm thức, do nỗ lực tự tạo, đạt đến mục tiêu và băng qua “vùng đất cháy”, một đoạn rất nhỏ của lưới dĩ thái thuộc thể dĩ thái hành tinh bị lửa phá hủy; điều này dẫn đến thành tựu rõ rệt cho Hành tinh Thượng đế, nhờ sự phóng thích tương đối không quan trọng mãnh lực của một tế bào duy nhất trong cơ thể Ngài.” (TCF, 509) Năng lượng cung 4 là năng lượng thống trị luôn luôn đặt sức ép lên giới thứ tư, có một liên hệ đặc biệt với cách thức phát triển của con người. Tiến trình hoạt động theo trình tự xung đột—từ bỏ—giải thoát, hay điểm khủng hoảng—điểm nhất tâm—điểm xuất hiện là cách thức mà nhân loại phải trải qua. Những cuộc khủng hoảng thường xuyên mà giới nhân loại phải đối mặt biểu thị sự tiến bộ và cơ hội cho giải thoát chứ không phải là thảm họa và sự thất bại. Sẽ đến một thời điểm mà con người nhận thức được rằng khủng hoảng thực ra là tất yếu và là cơ hội cho con đường giải thoát cuối cùng của y. Nhân loại chắc chắn đã tiến triển đến mức độ tiến hóa hiện tại của nó bằng những cuộc khủng hoảng thường xuyên, bằng những chiến đấu trên trận chiến của hành tinh, trận chiến của các mặt đối lập, bằng những thống khổ khi phải lựa chọn để rồi từ bỏ, tống khứ những gì thuộc về vật chất thấp kém, trọng trược để tiến tới trên con đường thăng thượng trở về với chính bản thể của mình với một hành trang đầy ắp những kinh nghiệm trong ba cõi vật chất hồng trần. Ở trong thái dương hệ này, con người đã được đặt sẵn một mục đích “vươn lên bằng cách chế ngự vật chất, đặt chân lên con rắn vật chất và trở thành con rắn minh triết”. Cái nguyên nhân bí ẩn sâu xa gây ra cuộc đấu tranh lâu dài của con người nằm trong chính bản thân y. Bởi nhân loại, giới thứ 4—như một điểm trung gian, là sự biểu lộ của sự kết hợp, phối trộn của hai trạng thái cao và thấp của linh hồn. Y có thể đồng hóa chính mình với cả hai trạng thái và tâm thức y dao động giữa hai trạng thái đối lập này. Trong y vừa có sự thôi thúc hướng lên của mầm sự sống linh thiêng, vừa có sự níu giữ hướng xuống của bản năng hình tướng. Điều đó dẫn đến bi kịch, sự xâu xé dữ dội ở trong bãi chiến trường là chính y. Y chỉ có thể có được tự do khi hồn thiêng được giải thoát qua sự thăng hoa của sinh hồn. “Giới nhân loại ………… Bí ẩn về con đường đôi (double path) hoặc của hơi thở kép (double breath). “Nhân loại là một sự biểu lộ hai trạng thái của linh hồn—sinh hồn (animal soul) và hồn thiêng (divine soul)—và hai trạng thái này, được pha trộn và phối hợp trong con người, tạo thành nhân—hồn. Chính sự kiện này mới là nguyên nhân của các vấn đề đặc biệt của con người, và chính hai yếu tố này mới lôi kéo con người vào trong cuộc đấu tranh lâu dài, vốn dẫn đến kết quả là sự giải thoát của hồn thiêng, qua sự thăng hoa của sinh hồn.” (EPI, 248) “Bi kịch, sự khó khăn và sự vinh quang của con người là ở chỗ con người có thể đồng hóa chính mình với cả hai trạng thái—sắc tướng và sự sống; còn tình trạng tâm lý của y thì lại ở trong thời kỳ mà y tạo thành một phần của giới nhân loại, tức giới của y, tâm thức của y thì dao động giữa các cặp đối hợp này. Y có thể đồng nhất hóa chính mình với các hình hài dưới con người, và lúc nào y cũng làm điều này trong các giai đoạn ban đầu. Y có thể đồng nhất hóa chính mình với khía cạnh sự sống, và y làm điều này trong các giai đoạn cuối cùng. Trong giai đoạn giữa của người bậc trung, y bị xâu xé dữ dội giữa cả hai, và chính y là bãi chiến trường… Con người đau khổ, nhưng đau khổ về thể chất, về cảm giác, và cũng về trí tuệ, và đau khổ trí tuệ là do sự phát triển trong y một vài trạng thái của hạ trí— sự tiên đoán, ký ức, sự tưởng tượng, năng lực hình dung, sự hối hận, và sự thôi thúc vốn có để vươn tới thiên tính, vốn mang cùng với nó một cảm giác về sự mất mát và thất bại.” (EPI, 250) Mục đích của cung 4 là trở thành một tác nhân cân bằng. Để cân bằng, nó cần lựa chọn phân biện. Vì thế nó là cung của thử và sai. Những trải nghiệm sai tiêu cực khiến con người đau khổ nhưng nó cũng dạy y cách tự bảo vệ mình, giúp tăng trưởng lòng can đảm của người chiến binh để vượt qua những bức tường phòng vệ mà y đã tự tạo ra, đối mặt với sự tổn thương và mở rộng trái tim để sẵn sàng cảm nhận, bao dung. Giáo sư M.Robbins trong một webinar về khoa học tam giác đã nhận xét: “Cung 4 là năng lượng đằng sau cái mà chúng ta có thể gọi là “Sự bất mãn thiêng liêng” (Divine Discontent). Sự bất mãn này dẫn con người đến với cuộc đấu tranh để đạt được tự do. Sự xung đột, chiến tranh liên miên trong lịch sử nhân loại trên hành tinh Địa cầu cho đến tận ngày nay là một ảnh hưởng đã được định trước bởi năng lượng cung 4 chi phối sự phát triển của giới thứ 4 trong thiên nhiên. Năng lượng Hài hòa qua Xung đột hoạt động trong gia đình nhân loại và chi phối tất cả các vấn đề của con người, cá nhân, nhóm, tổ chức, quốc gia,… Nó dẫn dắt nhân loại đi từ sự từ bỏ này đến sự từ bỏ khác cho đến ngày giới nhân loại đạt được sự tự do hoàn toàn sau cuộc điểm đạo thứ 4, cuộc điểm đạo Đại từ bỏ để trở thành thành viên chính thức của giới thứ năm, giới tinh thần. Quá trình hài hòa của cung 4 kêu gọi sự hòa hợp lẫn nhau, cho và nhận, điều chỉnh cấu trúc năng lượng của mỗi cá nhân trong giới nhân loại sao cho sự tiếp xúc trở nên ít bất hòa hơn, có thể hòa trộn và thỏa hiệp với nhau tới một sự thống nhất, tổng hợp. Xung đột là một phần của quá trình làm hài hòa. Quá trình duy trì sự hòa hợp đòi hỏi sự điều chỉnh liên tục, từng khoảnh khắc trong việc lĩnh hội, thâu nhận kinh nghiệm. Chiến tranh hủy diệt hình hài nhưng cũng thanh lọc bản chất thấp kém của thế giới loài người, từng bước một dẫn đến sự thức tỉnh của nhân loại, dẫn đến nhận thức sự thật về Thế giới duy nhất, về sự thống nhất nội tâm bên trong của toàn bộ nhân loại. “Chiến tranh đã tạo ra nhiều cái hay—bất chấp sự hủy diệt của các hình hài. Các nguyên nhân của chiến tranh được hiểu rõ hơn; các vấn đề có liên quan đang dần dần được làm sáng tỏ; thông tin về mọi quốc gia—ngay cả khi được trình bày thiếu chính xác—đã đánh thức con người trước sự thật về Thế Giới Duy Nhất; việc cùng chung đau đớn, thống khổ, lo lắng, đói khát và tuyệt vọng đã đưa tất cả mọi người lại gần nhau hơn, và mối quan hệ này là tác nhân đem lại hài hòa lớn hơn nhiều so với con người nhận thức; thế giới của con người ngày nay được đan kết chặt chẽ ở bên trong (mặc cho tất cả các phân chia và xung đột bên ngoài) hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại; có một quyết tâm vững chắc hơn để thiết lập các mối quan hệ đúng đắn của con người, và một nhận thức rõ ràng hơn về các yếu tố có liên quan.” (RI, 612) “Trong thế giới vào lúc này, hai khía cạnh của Cung 4 này—khía cạnh hoặc Nguyên tắc Xung đột và khía cạnh hoặc Nguyên tắc Hài hòa—đang đấu tranh để mang lại sự giải thoát vào trạng thái cân bằng của nhân loại. Cho tới khá gần đây, Nguyên tắc Xung đột đã ngày càng phát triển quyền lực, tuy nhiên như là kết quả của sự xung đột này, một xu hướng rõ rệt hướng tới sự hài hòa có thể được nhìn thấy đang xuất hiện trong tư duy của con người; khái niệm về sự hài hòa qua việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn của con người đang từ từ được thừa nhận. Các hoạt động của nhân loại, và đặc biệt là của các chính phủ, đã ích kỷ một cách đê tiện, và bị kiểm soát bởi các quan niệm về tranh đấu, xâm lược và cạnh tranh trong vô vàn thiên niên kỷ; các lãnh thổ của hành tinh này đã đổi chủ nhiều lần, còn Trái đất đã trở thành sân chơi của một chuỗi dài những kẻ chinh phục, các anh hùng của chủng tộc—được nhớ mãi trong lịch sử, bia đá và tư duy con người—đã là các chiến sĩ, và sự chinh phục đã là một lý tưởng. Cuộc thế chiến (1914-1945) đánh dấu một đỉnh cao trong hoạt động của Nguyên tắc Xung đột và, như Tôi đã chỉ ra, các kết quả của công việc này ngày nay đang mở ra một kỷ nguyên mới của sự hòa hợp và hợp tác, vì khuynh hướng của tư duy con người là hướng tới sự chấm dứt xung đột.” (RI, 621) Ngày nay, sự xung đột của các ý tưởng và ham muốn tình cảm quá sâu sắc trong nhân loại đã khiến con người khao khát thoát khỏi sự rối loạn, khiến y phải lựa chọn quyết định chính yếu mà nó sẽ dẫn đến sự hài hòa một cách lành mạnh. “Xét về mặt nhân loại như một tổng thể, sự xung đột của các ý tưởng và ham muốn tình cảm ngày nay quá sâu sắc đến mức cuối cùng nó sẽ tự cạn kiệt, và con người sẽ, với sự khuây khỏa và với một khát khao thoát khỏi sự rối loạn thêm nữa, hướng về các liên quan chính đáng của con người; điều này sẽ tạo thành quyết định đầu tiên chính yếu của con người dẫn đến sự hài hòa được ước muốn từ lâu. Thái độ của quần chúng lúc đó sẽ là hướng tới sự hài hòa một cách lành mạnh, nhờ vào hoạt động của những người nam và nữ thiện chí khi họ thực hiện “việc tuôn đổ tình thương của Thượng Đế vào tâm con người”. (LOM, 18) d. Một số tổng kết và dự báo của Chân sư DK Chân sư DK đã đưa ra những tổng kết và dự đoán đối với tương lai của nhân loại dưới sự chi phối và kiểm soát của cung 4, và cung này sẽ còn chi phối giới thứ 4 cho tới 2 cuộc tuần hoàn tiếp theo. Chân sư cũng đưa ra ngụ ý về một sự chuyển đổi của cung linh hồn của nhân loại từ cung 4 sang cung 2 trong tương lai, “minh triết và đáp ứng trực giác cõi bồ đề sẽ là đặc trưng cho nhân loại”1, sau khi nhân loại đạt được kết quả là sự mỹ lệ và năng lực sáng tạo. Nhân loại đang tiến dần đến cuộc điểm đạo đầu 1 Esoteric Psychology, Vol I, p.348. tiên của mình, vì vậy việc chuyển đổi cung linh hồn từ cung 4 sang cung 2 trở thành một khả năng cao. Nhân loại phải biểu lộ tình thương và phát triển năng lượng cung 2 Bác ái—Minh triết.1 “1. Cung 4, Cung Hài hòa qua Xung đột là một yếu tố kiểm soát trong các sự việc con người ở mọi thời, và đặc biệt là ngày nay. 2. Nguyên tắc Xung đột là tác nhân của Nguyên tắc Hài hòa và tạo ra những căng thẳng và những cố gắng, cuối cùng sẽ đưa đến sự giải thoát. 3. Cuộc điểm đạo lớn, Điểm đạo Từ bỏ, cộng với nhiều sự từ bỏ nhỏ hơn, là kết quả của cuộc xung đột bên trong và luôn đi trước sự giải thoát vào sự hòa hợp và an bình. 4. Xung đột tạo ra: Chiến tranh—Từ Bỏ—Giải Thoát. 5. Con người chịu đựng các cuộc khủng hoảng về khả năng phân biện, dẫn đến sự lựa chọn đúng đắn. Đó là vấn đề mà nhân loại ngày nay đang đối mặt, dẫn đến một cuộc khủng hoảng bên trong Liên hiệp quốc. 6. Thánh đoàn chịu đựng các bước ngoặt của quyết định, dẫn đến sự nhận thức Thiên cơ, tham gia vào Thiên ý và ngăn chận tà lực. 7. Nguyên tắc Xung đột ngày nay linh hoạt trong mọi quốc gia, trong mọi tôn giáo, trong mọi tổ chức, đưa đến sự xuất hiện của Kỷ nguyên mới. 8. Xung đột tạo ra các điểm khủng hoảng, kế đó một điểm nhất tâm, và cuối cùng một điểm xuất hiện. 9. Nguyên tắc Xung đột này đang chuẩn bị đường cho sự tái lâm của Đức Christ, Đấng sẽ khai mở kỷ nguyên mới của sự hài hòa. 10. Đức Christ sẽ đến trong ba cách khác nhau: a/ Qua việc ứng linh, trên cõi trí, mọi đệ tử và người tìm đạo; b/ Qua việc tuôn đổ tình thương hay tâm thức Christ vào quần chúng trên cõi tình cảm; c/ Qua sự hiện diện của Ngài bằng thể xác được nhận biết trên Cõi trần. 11. Một số quốc gia ngày nay bị xâu xé vì xung đột, nhưng đang tiến tới sự hài hòa. Các quốc gia khác là tiêu điểm của sự bất hòa và do đó đáp ứng với Nguyên tắc Xung đột. 12. Liên Xô, Mỹ và Vương quốc Anh tạo thành một tam giác năng lượng đang chi phối, mà, khi các mối liên hệ đúng đắn đã được thiết lập, có thể và sẽ tạo ra và thúc đẩy các mối liên hệ đúng đắn trong con người. 13. Chủng tộc Do Thái là một biểu tượng của nhân loại theo nghĩa quần chúng của nó; trong việc giải quyết xung đột của nó, và trong việc thực hiện hành động đúng đắn, một bước tiến lớn trong việc giải phóng con người sẽ diễn ra. 14. Khi cá nhân đệ tử học cách làm hài hòa chính y qua xung đột, y đặt ra một mẫu mực giúp đỡ rõ rệt cho nhân loại nói chung.” (RI, 639 ) 1 M.Robbin (webinar-commentary-GWP-Rays-of-Humanity). IV. CUNG 5, CUNG PHÀM NGÃ CỦA NHÂN LOẠI 1. Những tương ứng về mặt số học: số 5 Trong Giáo lý bí nhiệm, bà Blavatsky viết rằng số 5 là biểu tượng của một Hành tinh Thượng đế, số 5 là biểu tượng của một tiểu thiên địa (tức con người), số 5 cũng còn là biểu tượng của sáng tạo. Qua tương đồng này ta có thể thấy sự sáng tạo có ý nghĩa xuyên suốt và quan trọng như thế nào trong toàn thể vũ trụ biểu lộ. Chân sư DK cũng cho biết một loạt những tương ứng về số 5 trong vũ trụ này. Có một loạt các tương ứng rất lý thú được thể hiện nơi đây và chúng ta có thể nêu ra vắn tắt các đường lối nên theo trong sự liên kết này bằng bảng sau đây: Cõi vũ trụ thứ năm …………………….. Cõi trí vũ trụ. Cõi thái dương hệ thứ năm ………… Cõi trí. Cõi phụ thứ 5 của cõi trần ………….. Chất hơi. Nguyên khí thứ năm ………………….. Manas. Định Luật thứ năm …………………….. Qui định, Định luật Cụ thể. Cung thứ năm …………………………… Kiến thức cụ thể. Cuộc tuần hoàn thứ năm ……………. Cuộc tuần hoàn của thành tựu trí tuệ. Căn chủng thứ năm …………………… Aryan. Phát triển trí tuệ. Phụ chủng thứ năm……………………. Teutonic và Anglo-Saxon. Trí cụ thể. Nhóm Devas thứ năm ………………… Hỏa thiên thần của cõi trí. Manvantara thứ năm ………………… Ba phần năm các manasaputras thành đạt. Hành tinh hệ thứ năm …………………. Đấng Chủ quản Khoa học cụ thể. Mahamanvanta thứ năm(hay thái dương hệ) ….. Thái dương Thượng đế đạt được Điểm đạo thứ 5 chính yếu của Ngài. Dãy hành tinh thứ năm ………………… Cuộc tiến hóa chính—hỏa thiên thần. Huyền Giai thứ năm ……………………. Các thần Kiến tạo cấp cao. Các rung động thuộc cấp năm……… Rung động trí tuệ.” (TCF, 605) Trong bảng trên ta thấy có sự liên quan gần gũi của nguyên khí thứ 5—cung thứ 5— cuộc tuần hoàn thứ 5—căn chủng thứ 5—nhóm Devas thứ 5, Hỏa thiên thần (Solar Angel)—huyền giai thứ 5 với giới nhân loại trong chu kỳ hiện nay. 2. Tổng quát về cung 5 Mục tiêu thứ 5 của Thượng đế là Tri thức cụ thể hay Khoa học. Cõi thứ 5 trí tuệ là lĩnh vực hoạt động chính của Đấng Chúa tể cung 5. “Cung thứ năm này là một Thực thể của ánh sáng tinh thần mãnh liệt nhất, và trong sự biểu lộ của Ngài trên cõi thứ năm này, vốn là cõi đặc biệt của Ngài, Ngài tượng trưng cho ba khía cạnh theo một cách mà không cung nào khác đạt được. Nhờ tính chất thượng trí của Ngài, cung này là một vận hà thanh khiết cho ý chí thiêng liêng.” (EPI, 77) “Lý do là cõi thứ năm của trí tuệ là lĩnh vực hoạt động chính của Ngài, và chính trên cõi này mà chúng ta tìm thấy ba khía cạnh của thể trí: - Thượng trí hay trí trừu tượng, là hiện thân của một tam nguyên cao hơn. - Hạ trí hay trí cụ thể, là trạng thái cao nhất của phàm ngã. - Chân nhân hay Thái dương Thiên thần, là Con Trí tuệ thuần túy, vốn biểu lộ trí thông minh, cả trừu tượng và cụ thể, và là điểm hợp nhất.“ (EPI, 76) Danh xưng đầu tiên của Đấng Chúa tể cung 5 là “Người tiết lộ sự thật”. Cung 5 ban phát quyền năng khám phá sự thật thông qua trí tuệ sắc sảo, sự chính xác tuyệt vời đến từng chi tiết, sự kiên nhẫn đến cùng để truy tìm sự thật. Cung 5 phân phát mạnh mẽ ánh sáng tri thức, thông qua hành tinh Kim tinh như một vận hà truyền chuyển năng lượng cung này tới Địa cầu. Năng lượng cung 5 kiểm soát vật chất và hình tướng. Vật chất là tinh thần được khách quan hóa, vật chất cũng đồng thời là một bức màn che giấu tinh thần. Vật chất là phương tiện để biểu hiện linh hồn trên cõi trần, và linh hồn là phương tiện trên cõi giới cao hơn để biểu lộ tinh thần. Năng lượng cung 5 thúc đẩy sự tiết lộ bí mật của vật chất và chứng minh vật chất thực sự là tinh thần hay sự sống. “Thể trí tiết lộ Đấng duy nhất.” “Hãy dứt bỏ tư tưởng của ngươi khỏi hình tướng và nhận ra Ta đang chờ đợi bên dưới những tấm màn che, những hình dạng nhiều mặt, các ảo cảm và các hình tư tưởng che giấu Bản ngã thật sự của Ta. Đừng bị lừa dối. Hãy nhận ra Ta. Hãy biết Ta. Sau đó, hãy sử dụng các hình tướng khi đó vốn sẽ không che đậy cũng không ẩn giấu Bản ngã, mà sẽ cho phép bản chất của Bản ngã đó đi xuyên qua những tấm màn của sự sống, tiết lộ tất cả ánh hào quang của Thượng Đế, quyền năng thu hút của Ngài; tiết lộ tất cả những gì có hình tướng, có sự sống, có vẻ đẹp và sự hữu dụng. Thể trí tiết lộ Đấng duy nhất. Thể trí có thể pha trộn và kết hợp hình tướng và sự sống. Ngươi là Đấng duy nhất. Ngươi là hình tướng. Ngươi là thể trí. Hãy biết điều này.” (EPII, 370) Đấng Chủ quản cung 5 là biểu hiện của nguyên khí thứ 5 của Thượng đế, nguyên khí trí tuệ, manas. Ảnh hưởng của Ngài đưa đến sự thích ứng khoa học của vật chất với hình hài. “chính cung này có liên hệ với sự kiến tạo hình hài, với việc sử dụng vật chất, với việc biểu lộ ý tưởng, hoặc của các thực thể dù là thuộc về vũ trụ, Thái dương hệ, nguyệt cầu hay dưới con người. Hành tinh Thượng đế của cung thứ 5 này của thái dương hệ nắm giữ một vị trí đặc thù trong hệ thống các sự việc… Ảnh hưởng của Ngài là ảnh hưởng đang đưa đến sự thích ứng khoa học của vật chất đối với hình hài, và sự sống của Ngài là sự sống bao giờ cũng kết hợp 3 và 5… Vào lúc biệt ngã hóa hay là vào lúc lâm phàm của các đơn vị hữu ngã thức, nguyên khí thứ 5 liên kết ba nguyên khí cao và bốn nguyên khí thấp. Hiện tượng này xảy ra trong căn chủng thứ ba và tạo nên một hình hài mà trong đó Tinh thần ngự trị trên cõi phụ thứ ba của cõi chính thứ 5.” (TCF, 434) Đối với các Chân thần con người, nguyên khí manas là yếu tố dẫn đến sự thành toàn trong cơ tiến hóa của con người. Vì vậy mà Đấng Chúa tể cung 5 có uy lực độc đáo và đặc biệt liên quan đến giới nhân loại. ^Đơn vị tiến hóa ^thành toàn nhờ bởi ^ |> Con người |> đạt được nhờ manas | |> Hành tinh Thượng đế |> đạt được nhờ minh triết hay tuệ giác| |> Thái dương Thượng đế|> đạt được nhờ ý chí | (TCF, 334) Cung 5 còn được gọi là cung của hạ trí. Nó thể hiện nguyên tắc tri thức. Đó là cung của khám phá, thám hiểm, điều tra, tìm tòi, suy đoán, phân loại, định nghĩa, miêu tả, đặt tên sự việc. Nó cũng là cung của các bí nhiệm của Sự sống, của sự mặc khải qua ánh sáng. Năng lượng của cung 5 cung cấp sự thôi thúc để phát minh, để cải thiện chức năng cho lý do thực tế. Cung 5 đã tạo ra cái mà chúng ta gọi là khoa học. “Hạ trí cụ thể. Loại trí này tự biểu hiện đầy đủ nhất qua cung thứ năm về Khoa học Cụ thể, phản chiếu phương diện thấp của trạng thái ý chí của thiên tính, và tổng kết trong chính nó mọi tri thức cũng như ký ức của chân ngã. Hạ trí cụ thể này có liên quan với các cánh hoa tri thức của hoa sen chân ngã và có khả năng của sự giác ngộ linh hồn rõ ràng, cuối cùng tỏ ra là ngọn đèn pha của linh hồn. Nó có thể được đưa vào kiểm soát nhờ các tiến trình định trí. Nó có tính tạm thời trong thời gian và không gian. Nhờ hoạt động sáng tạo hữu thức, nó có thể được liên kết với nguyên tử thường tồn thượng trí hay với trí trừu tượng.” (RI, 461) Trí cụ thể này liên quan đến những cánh hoa tri thức của hoa sen chân ngã và khả năng giác ngộ linh hồn rõ ràng, nó tự biểu hiện một cách trọn vẹn nhất qua cung 5, dù các cung khác có thể có một phần biểu hiện nhưng không đầy đủ như vậy. Nó có tính tạm thời trong không thời gian, nó hữu ích cho đến một thời điểm trước khi ba trí hợp nhất, và trí cụ thể được bao trùm bởi các loại trí cao hơn. Cung 5 có năng lượng tạo hình tư tưởng, nó có thể biến đổi những ý tưởng thiêng liêng thành lý tưởng của con người, bởi hạ trí được dự định là một vận hà cho năng lượng thiêng liêng của thượng trí. Cung 5 đặc biệt liên quan đến hạ trí cụ thể, và nó cũng liên quan đến não bộ con người: “Một thể trí và não bộ biểu hiện trong một con người!”1. “Cung 5 đã tạo ra những gì mà chúng ta gọi là khoa học. Trong khoa học, chúng ta thấy một tình trạng vô cùng hiếm có. Khoa học có tính tách biệt trong cách tiếp cận của nó với các trạng thái khác của sự biểu lộ thiêng liêng mà chúng ta gọi là thế giới của hiện tượng thiên nhiên, nhưng nó lại không tách 1 a mind and brain (embodied in a man) - Esoteric Psytrology, II, p.169. biệt trong thực tại, vì có ít xung đột giữa các khoa học và ít tranh chấp giữa các nhà khoa học.” (EPI, 52) 3. Tính chất và phương pháp hoạt động của cung 5 Các phương pháp hoạt động của Đấng Chủ tể cung 5 liên quan tới các kiểu mẫu hình hài trong vũ trụ, tới thể xác trọng trược của Thượng đế, tới năng lượng trí tuệ có thể được khái quát như sau: “1. Sự tương ứng của các hình hài với kiểu mẫu, qua ảnh hưởng tập thể. 2. Kích thích thể xác trọng trược của Thượng đế, ba cõi giới. 3. Năng lượng hay xung lực trí tuệ, Toàn Linh Trí.” (TCF, 1222) Cung 5 là cung khoa học và nghiên cứu, vì vậy ảnh hưởng của nó dẫn đến trí tuệ sắc sảo, chính xác, trung thực, sáng suốt. Nó có các thuộc tính tích hợp cực kỳ mạnh mẽ. Năng lượng cung 5 được phân bố đồng đều, cân bằng tới ba khía cạnh của thực thể tâm linh có liên quan: chân ngã, thể trí, hình tướng để chúng cùng được kích thích. Điều này tạo ra một mối quan hệ giữa linh hồn với các khía cạnh khác nhau của hình tướng, mang lại sự chỉnh hợp cần thiết và cũng gợi lên một cuộc khủng hoảng của phàm ngã với chân ngã. Khi cuộc khủng hoảng được giải quyết một cách đúng đắn thì ánh sáng sẽ tuôn tràn, dẫn đến sự mặc khải về mối quan hệ giữa hình tướng với linh hồn. “Nó có các thuộc tính tích hợp mạnh mẽ nhất, nhưng người nào sử dụng nó phải quan tâm để hình dung và duy trì trong tầm nhìn của thể trí của y sự phân bổ đồng đều, công bằng, quân bình năng lượng thiêng liêng được khởi động bởi việc sử dụng phương pháp cung năm này, sao cho ba khía cạnh của thực thể tâm linh có liên quan − là thể trí, Đấng sử dụng nó (Chân ngã) và bản chất hình tướng − có thể cũng được kích thích. Phát biểu này hàm ý, chẳng hạn, rằng nếu mọi sự chú trọng của năng lượng linh hồn có sẵn được rót vào bản chất thấp, là con người tự nhiên, thì nó có thể dẫn đến sự phá hủy hình tướng, và hệ quả là sự vô dụng của con người trong việc phụng sự. Mặt khác, nếu tất cả nó, được tuôn đổ vào chén tiếp nhận của bản chất cảm dục, nó có thể chỉ dùng để tăng cường ảo cảm và tạo ra sự cuồng tín. - Con người tâm thông thấp − là thể xác và thể cảm dục − phải nhận một hạn ngạch lực ổn định. - Thể trí phải nhận phần chia sẻ năng lượng khai sáng của nó. - Phần thứ ba của năng lượng đó phải được giữ lại trong chu vi của bản thể linh hồn để nhờ đó cân bằng hai phần kia.” (EPII, 370) Cung 5 ban quyền năng điểm đạo. Cung 5 giúp con người biệt ngã hóa. Cung 5 cũng là chìa khóa đưa nhân loại gia nhập vào giới thứ 5 khi đạt đến trình độ nhất định. Cung 5 là chìa khóa đưa đến Toàn Linh Trí1(Thể Trí của Thái Dương Thượng Đế). Mọi đệ tử, điểm đạo đồ phải được tập trung vào cõi trí, phải dùng thể trí và sự an trụ của họ phải nằm trên cõi trí. Chân sư DK cung cấp cho chúng ta một số định nghĩa về năng lượng cung 5 này2. “1. Năng lượng của điều được gọi một cách đặc biệt là “khoa học cụ thể” là tính chất hay bản chất chi phối của Cung 5.” Tính chất khoa học là việc thu đạt được kiến thức chính xác qua nghiên cứu các mối quan hệ và các hình tướng cụ thể. Như vậy năng lượng cung 5 là khoa học cụ thể và là vật chất của cõi trí. “2. Nó rõ ràng là vật chất của cõi trí. Cõi này tương ứng với cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần, và do đó có bản chất khínếu bạn muốn dùng sự tương ứng của nó như là một biểu tượng của bản chất của nó. Nó dễ bay hơi, dễ bị phân tán, là tác nhân tiếp nhận sự soi sáng, và có thể có độc trong tác dụng của nó, vì không có gì nghi ngờ là có các tình trạng mà trong đó “thể trí là kẻ giết Thực tại”.” Năng lượng cung 5 được liên kết với tính chất chuyển động, dễ phân tán, bay hơi của vật chất cõi trí. Nó là tác nhân tiếp nhận sự soi sáng và nhờ nó mà cuộc điểm đạo lần thứ 3 với tên gọi Biến dung, hoặc Khai sáng, Mặc khải có thể được thực hiện. “3. Năng lượng này được đặc trưng bởi ba tính chất: a/ Tính chất vốn là kết quả của tình trạng liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần. Chúng ta gọi điều này là “trí trừu tượng” và tác động ảnh hưởng nó đến từ mức độ niết bàn của Tam Nguyên Tinh Thần, là tác động ý chí tinh thần.— Đây là mối liên hệ giữa cõi ý chí, cõi phụ cao nhất của cõi trí với cõi trí cụ thể, cõi phụ thứ 4 tính từ trên xuống của cõi trí. b/ Tính chất mà trong thái dương hệ này, dễ dàng đáp ứng với cung chủ yếu của hành tinh, là cung Bác ái–Minh triết. Nó rất đáp ứng đến nỗi—trong sự kết hợp với các phóng xuất từ ba cõi thấp—nó đã tạo ra hình tướng tồn tại duy nhất trên cõi trí. Hình tướng này (theo ý nghĩa hành tinh) là hình tướng của Thiên Giới, và, theo ý nghĩa cá nhân, là hình tướng của chân ngã hay linh hồn.—Chân sư DK cho chúng ta biết Hành Tinh Thượng Đế của Địa cầu là một Điểm đạo đồ Vũ trụ bậc một, Ngài có linh hồn cung 2, và Ngài đang di chuyển vào cung linh hồn của mình. Vì vậy cung chính của hành tinh chúng ta là cung 2 Bác ái–Minh triết. Thái dương hệ của chúng ta cũng là thái dương hệ cung 2. Sự trùng lặp này càng củng cố thêm năng lượng cung 2. Khả năng đáp ứng của năng lượng cung 5 với cung Bác ái–Minh 1 The Universal Mind. 2 The Rays and the Initiations, p.590- 593. triết của hành tinh, kết hợp với các phóng xuất từ tam giới đã tạo ra hình tướng tồn tại duy nhất trên cõi trí là Thiên giới. Thiên giới chính là Giới thứ năm, Giới Linh hồn, là mục tiêu mà giới thứ tư, giới Nhân loại đang tiến tới. Đó cũng là Hoa sen Chân ngã của gia đình nhân loại. c/ Tính chất vốn về cơ bản có liên quan với các phóng phát hoặc các rung động phát sinh từ ba cõi thấp; các phóng phát này đưa đến kết quả một cách sáng tạo là vô số các hình tư tưởng được tìm thấy trên các phân cảnh thấp của cõi trí. Do đó, có thể nói rằng các tính chất hoặc các khía cạnh này của Cung 5, cung năng lượng tinh thần, tạo ra: Tư tưởng thuần túy (trí trừu tượng, ở cõi phụ cao nhất của cõi trí); Chủ thể tư tưởng hay Con của Trí Tuệ (linh hồn, ở cõi phụ thứ hai hoặc thứ ba từ trên xuống của cõi trí); Các hình tư tưởng (trí cụ thể, ở bốn cõi phụ thấp của cõi trí). Như vậy tất cả các cõi phụ của cõi trí đều chịu sự chi phối, ảnh hưởng của năng lượng cung 5. “4. Năng lượng này (trong chừng mực nhân loại có liên quan) là năng lượng tạo hình tư tưởng, và mọi ấn tượng từ cõi trần, cõi dĩ thái và cõi cảm dục thúc đẩy nó đi vào hoạt động trên mức độ kiến thức cụ thể, với một sự trình diễn các hình tư tưởng có tính tổng hợp với nhiều màu sắc biến ảo.” Đối với nhân loại, năng lượng cung 5 tạo ra rất nhiều sự cụ thể hóa khi cái trí thấp— hạ trí được nuôi dưỡng bằng năng lượng của cõi trần, dĩ thái và cảm dục. Năng lượng cung 5 hiện đang là năng lượng mạnh nhất trong hành tinh Địa cầu, bởi vì nó đã hoàn thiện trong thái dương hệ thứ nhất. Năng lượng cung 5 nhạy cảm một cách sâu sắc với năng lượng Bác ái–Minh triết của cung 2. “5. Về cơ bản đó là năng lượng mạnh nhất vào lúc này trong hành tinh, bởi vì nó đã được đưa đến sự trưởng thành trong thái dương hệ thứ nhất, là thái dương hệ của sự thông tuệ linh hoạt…” Năng lượng cung 5 đã được phát triển khá hoàn chỉnh từ thái dương hệ trước, là di sản của nó, bởi đó là thái dương hệ của sự thông tuệ. Cung 5 là cung phàm ngã của nhân loại, và nhân loại thì là sản phẩm tiến hóa nhất trên hành tinh này. Cung 5 giúp con người có thể tạo ra những thứ thể hiện được trí thông minh thông qua vật chất1. Vật chất là biểu hiện khía cạnh thông minh của Thượng đế. Trí thông minh nhân tạo, những thiết bị thông minh hoạt động với mức độ thông minh bán tự động, những máy móc có cơ chế vận hành tinh vi, khéo léo giúp giải phóng sức lao động của con người,… đó là các ví dụ cụ thể của trí thông minh trong hành động thực tế. 1 demonstrate intelligence through matter - Tapestry of God, Vol. I, p.134, M.Robbin. “6. Đó là năng lượng vốn kết nạp nhân loại (và nhất là đệ tử lão luyện hoặc điểm đạo đồ) vào các bí pháp của chính Thiên Trí. Đó là chìa khóa “trọng yếu” đưa đến Toàn Linh Trí, thể trí vũ trụ.” Cung 5 có liên quan đến quá trình điểm đạo, nó ban cho con người quyền năng để điểm đạo. Năng lượng cung 5 là chìa khóa quan trọng để mở ra cánh cửa bước vào Toàn Linh Trí. “7. Nó nhạy cảm một cách sâu sắc với năng lượng của Bác ái–Minh triết, và sự dung hợp của nó với trạng thái bác ái được chúng ta đặt tên là “minh triết”, bởi vì mọi minh triết đều là tri thức có được nhờ kinh nghiệm và được bổ sung bởi bác ái.” Mọi minh triết đều là tri thức có được nhờ kinh nghiệm và được bổ sung bởi bác ái. Trước tiên là kiến thức được thu nạp qua con đường trải nghiệm các kinh nghiệm ở tam giới. Dưới ảnh hưởng của năng lượng cung 5, con người thực hiện nhiệm vụ này thông qua 5 giác quan của mình. Sau đó, kiến thức thu nhận được đó được đồng hóa và áp dụng, được thực hiện trong tình thương bác ái sáng suốt. Kiến thức được bổ sung bởi bác ái, đó là minh triết. Ở đây ta thấy sự kết nối giữa cung 2 với cung 5 mang lại ánh sáng và minh triết. Các Thái dương Thiên thần—những Đấng mang ngọn lửa trí tuệ tới cho con người—là sự kết hợp giữa cung 2 và cung 5. Các Ngài đang phân phối năng lượng Bồ đề. Cung 5 thực sự là “cung của tình thương thông minh1. Lĩnh vực hoạt động của cung 5 là ở trên cõi trí, và cõi này về cơ bản, chất liệu của nó là chất khí, “dễ bay hơi, dễ bị phân tán, là tác nhân tiếp nhận sự soi sáng, và có thể có độc trong tác dụng của nó, vì không có gì nghi ngờ là có các tình trạng mà trong đó “thể trí là kẻ giết Thực tại”. Ở cõi thượng trí, chất liệu này mang đến năng lực kiến tạo, soi sáng; ở cõi hạ trí, chất liệu này mang tới năng lượng hủy diệt. “8. Trong ba trạng thái của nó, năng lượng này có liên quan theo một ý nghĩa đặc biệt với ba Hoạt Động Phật. Các Đấng Cao cả này đạt đến trạng thái phát triển hiện tại của các Ngài trong Thái Dương hệ trước. 9. Năng lượng này, trong chừng mực nó được coi là năng lượng trí tuệ của một người—và đây là một trong các hạn chế nhỏ của nó, mặc dù đó là một hạn chế lớn đối với một người—là sự tương ứng cao của bộ não vật chất. Có thể nói rằng bộ não tồn tại vì thể trí tồn tại, và cần một bộ não như là điểm tập trung của nó trên cõi trần.” Đối với con người, cung 5 liên quan đến thể trí và não bộ. Thể trí cần não bộ như là phương tiện để nó có thể biểu hiện được trên cõi trần. Cổ luận nói rằng, thể trí và não bộ hoạt động trong một con người. 1ray of intelligent love - Discipleship in the New Age, Vol. I, p. 542. “10. Tính chất của năng lượng về kiến thức hay khoa học cụ thể gồm có hai phần: a/ Nó đáp ứng lạ thường với các ấn tượng đến từ một cội nguồn này hoặc cội nguồn khác. b/ Nó nhanh chóng bị đưa vào các hình tướng khi đáp ứng với ấn tượng.”—bởi vì nó là chất khí nên nó nhanh chóng bị đưa vào các hình tướng khi đáp ứng ấn tượng. “11. Những ấn tượng nhận được đến từ ba nguồn và liên tiếp được tiết lộ cho con người. Ba nguồn này là: a/ Các ấn tượng từ ba cõi thấp, trước tiên, các ấn tượng này đến từ cá nhân và rồi, thứ hai, đến từ các mức độ tâm thức hành tinh. b/ Những ấn tượng từ linh hồn, là Con của Trí, trên mức độ của chính trí năng. c/ Những ấn tượng từ Tam thượng thể Tinh thần, xuyên qua antahkarana; các ấn tượng này đến khi antahkarana được kiến tạo hoặc đang trong tiến trình kiến tạo.” Ba cấp độ ấn tượng đến từ ba nguồn: trí cụ thể, Con của Trí tuệ mang tính chất hợp nhất, và trí trừu tượng. “12. Năng lượng này về cơ bản là một tác nhân mang ánh sáng. Nó đáp ứng— một lần nữa một cách liên tục trong thời gian và không gian—với ánh sáng của Thượng đế. Chính vì lý do này mà thể trí được xem như vừa được soi sáng khi có các tiếp xúc cao, vừa như là chủ thể soi sáng ở nơi có liên quan với các cõi thấp… “ Chúa tể cung 5 là Thực thể phát sáng nhất trong số các Chúa tể cung. Ánh sáng của Kim tinh, ánh sáng của linh hồn chiếu sáng hạ trí và cho phép nó như một chủ thể soi sáng ở những cõi thấp hơn. “13. Năng lượng này (theo quan điểm của con người) được khơi hoạt và được đưa vào hoạt động nhờ tác động của năm giác quan vốn là các tác nhân truyền tải thông tin từ ba cõi thấp đến cõi trí. Có thể nói rằng: a/ Vì thế năm dòng năng lượng thông tin tạo ra tác động của chúng trên trí cụ thể và phát ra từ cõi hồng trần–cảm dục. b/ Ba dòng năng lượng, đến từ linh hồn, cũng tạo ra một ấn tượng trên trí cụ thể. c/ Một dòng năng lượng—trong tiến trình điểm đạo—tiếp xúc với thể trí. Dòng năng lượng này xuất phát từ Tam Thượng Thể Tinh Thần và sử dụng antahkarana. “ Với con người, cung 5 liên quan đến việc thu đạt kiến thức thông qua kinh nghiệm thực tế được tiếp nhận bởi năm giác quan. Trong lịch sử tiến hóa của con người, sự trải nghiệm kinh nghiệm hồng trần qua năm giác quan đã đánh thức trí cụ thể. Năm dòng năng lượng thông tin từ ba cõi giới thấp được tiếp nhận qua năm giác quan tạo ra các tác động của chúng trên trí cụ thể. Loại trí này thích nghi tốt để sinh tồn. Ba dòng năng lượng đến từ linh hồn gồm năng lượng của “Bảo ngọc trong hoa sen”, của 12 cánh hoa sen, và của tam giác nguyên tử thường tồn. Dòng năng lượng tiếp xúc với thể trí đến từ trí trừu tượng hoặc Tam nguyên tinh thần. “14. Năng lượng của cung 5 này có thể được coi là lương tri (common sense), bởi vì nó tiếp nhận mọi tác động này của các năng lượng khác nhau, tổng hợp chúng, tạo ra trật tự từ nhiều tác động không ngừng và giải thích chúng, như thế tạo ra sự đa dạng của các hình thức mà chúng ta đặt tên là “tư tưởng thế giới” (world thought).“ Common sense–lương tri là một loại tổng hợp của năm giác quan, có thể gọi nó là giác quan thứ sáu. Như vậy ta có thể thấy hạ trí liên quan đến giác quan thứ sáu1. Giác quan này tiếp nhận tác động của các năng lượng khác nhau, tổng hợp và giải thích chúng. “15. Năng lượng này biến đổi những ý tưởng thiêng liêng thành các lý tưởng của con người, liên kết các tri thức và khoa học của nhân loại với các lý tưởng này, như thế làm cho chúng thành các yếu tố khả thi trong cơ tiến hóa của con người, là các nền văn hóa và văn minh của nhân loại.” Các lý tưởng thì cụ thể hơn các ý tưởng. Là cung của năng lượng chính xác, cụ thể, cung 5 giúp biến đổi những ý tưởng thiêng liêng từ các cõi cao như cõi trực giác, cõi ý chí thành các lý tưởng cụ thể của con người ở các cõi thấp hơn. Các lý tưởng được thể hiện dưới hình thức liên quan đến tri thức và khoa học của con người. Và như thế nó tạo ra các nền văn hóa, văn minh của nhân loại trong tiến trình tiến hóa. Đây là 15 định nghĩa cơ bản mà Chân sư DK đưa ra cho chúng ta về năng lượng cung 5, cung đang có ảnh hưởng mạnh nhất trên hành tinh chúng ta vào lúc này. Nó thực sự giúp chúng ta khai mở trí tuệ. Nó giúp cho việc soi sáng các tác động của cung đối với nhân loại nói chung, nhất là khi cung 5 là cung phàm ngã của nhân loại. Ảnh hưởng của cung 5 mang đến khả năng hoạt động một cách rõ ràng trên cõi trí, sắp xếp thông tin, lý giải nó một cách chính xác, tạo ra các hình tư tưởng hoặc các khái niệm cho các lý giải đó. Năng lượng cung 5 tạo ra ba lĩnh vực tư tưởng chính mà trong đó năng lượng tạo hình tư tưởng tự biểu lộ: “1. Khoa học. Dưới từ này Tôi bao gồm tất cả những gì mà các tiến trình giáo dục bao hàm hoặc được cho là bao hàm, và một khoa học hữu ích như là y học. 2. Triết học, với cách trình bày của nó về các ý tưởng lớn lao đang chi phối. 3. Tâm lý học, với nỗ lực của nó để giải thích cho nhân loại và để phát hiện con người về mặt bản thể là gì, và con người hành động thế nào.” (RI, 595) 1 Trực giác được coi là giác quan thứ bảy. (M.Robbin) Tính chất phân tích, phân biện mạnh mẽ của cung 5 khi gây nên sự chia rẽ và hoạt động liên quan với Định luật Phân chia là do nó đang kích thích các phản ứng tiêu cực như giám sát, chỉ trích, tranh luận,… của phàm ngã. Ta biết rằng phàm ngã vốn có tính chia rẽ còn linh hồn thì bao gồm và hợp nhất. Khi tính chất phân tích, phân biện này được sử dụng, tổng hợp đúng đắn, nó sẽ được chuyển hóa thành sự mặc khải mục đích thiêng liêng. ”Phân tích, phân biện, sự biến phân, và năng lực phân biệt là các thuộc tính thiêng liêng. Khi chúng tạo ra một cảm giác về sự chia rẽ và sự khác biệt, khi đó chúng đang kích thích các phản ứng phàm ngã và vì vậy được sử dụng sai và áp dụng sai về mặt cá nhân. Tuy nhiên, khi chúng được giữ gìn theo ý nghĩa tổng hợp và được sử dụng trong việc áp dụng Thiên cơ cho tổng thể, chúng là những phẩm chất và các định luật của linh hồn và rất cần thiết cho sự khai mở đúng đắn mục đích thiêng liêng.” (EPII, 251) 4. Cung 5—cung phàm ngã của nhân loại a. Phàm ngã, cung phàm ngã, mô hình phàm ngã Khi ba hạ thể của con người là thể xác–dĩ thái, thể cảm dục, thể trí phát triển đến một giai đoạn tiến hóa nhất định, chúng pha trộn, tổng hợp và tạo ra phàm ngã sinh động. Phàm ngã đáp ứng với một mãnh lực cung nào đó và nó được gọi là cung phàm ngã. Cung phàm ngã tự tập trung nó trên cõi trần. “Cung phàm ngã tự tập trung nó trên cõi trần.” “Các khía cạnh quyết định của cung phàm ngã vốn tạo ra toàn bộ các tính chất về xác thân, tình cảm, và trí tuệ… Cho đến khi mọi tính chất của cung phàm ngã tập trung vào một điểm thì chúng ta có được một phàm ngã tích hợp với việc biểu lộ hướng ra ngoài vào thế giới hành động.” (EPI, 160-161) Khi phàm ngã đảm nhận quyền lực, nó kiểm soát, thống trị các hạ thể với các tham vọng, ham muốn quyền lực riêng của nó. Nó xung đột và chiến đấu với linh hồn để giành quyền kiểm soát cuộc sống, nó biểu hiện các đặc điểm tiêu cực của cung mà nó đáp ứng. Cho đến khi một cuộc chiến ổn định được thiết lập, sau khi đã trải qua nhiều kinh nghiệm đau thương, phàm ngã bị khuất phục và thanh lọc, linh hồn bắt đầu giành quyền kiểm soát, thấm nhuần phàm ngã và biến nó thành khí cụ cho linh hồn cho việc phụng sự. Lúc này các phẩm chất tích cực của cung phàm ngã được thể hiện và chuyển hóa, tổng hợp vào cung của linh hồn. Cung phàm ngã luôn luôn là một cung phụ của cung linh hồn. “Cung phàm ngã, một lần nữa, khi được sử dụng và kiểm soát một cách hữu ý, liên hệ con người với khía cạnh vật chất của Thiên tính và ban cho y “”sự tự do của ba cõi giới”” và của các giới dưới nhân loại trong tự nhiên.” (EPII, 296) “Cũng như phàm ngã không có chức năng nào khác trong kế hoạch thiêng liêng hơn là trở thành một vận hà cho, và là phương tiện biểu lộ của linh hồn…” (EPI, 76) “Phàm ngã của linh hồn được dự định trở thành một hiện thân của tình thương, được áp với trí thông minh và tạo ra những hình hài “hấp dẫn” sẽ dùng để biểu lộ trí thông minh đầy bác ái đó.” (EPI, 42) “Cung phàm ngã tìm thấy lĩnh vực hoạt động chính và sự biểu lộ của nó trong xác thân. Nó xác định xu hướng và mục đích sống của nó, sắc tướng và công việc của nó. Nó có tính chọn lọc về tính chất, khi chịu ảnh hưởng bởi cung chân ngã.” (EPI, 406) Cung phàm ngã ràng buộc với khía cạnh hình hài sắc tướng của sự biểu lộ còn cung linh hồn ràng buộc với khía cạnh sự sống và với tổng thể chủ quan. “cung phàm ngã gây ra một thái độ chia rẽ và tạo nên một sự tách ra khỏi nhóm các linh hồn mà phàm ngã là một ngoại hiện của nó, và một ràng buộc về cấu tạo với khía cạnh sắc tướng của sự biểu lộ. Cung chân ngã đem lại tâm thức tập thể và sự tách biệt với các hình tướng bên ngoài, tạo nên việc ràng buộc với khía cạnh sự sống của biểu lộ, và với tổng thể chủ quan.” (EPI, 407) “Trong gia đình nhân loại, những sự phân cấp khác nhau mà con người ý thức một cách đầy đau khổ sẽ được khắc phục và được chấm dứt khi thể trí được huấn luyện để kiểm soát và thống trị trong lĩnh vực của phàm ngã, và được sử dụng một cách chính xác như một yếu tố phân tích, tích hợp, thay vì như một yếu tố chỉ trích, phân biệt đối xử, chia rẽ. Việc sử dụng đúng đắn trí tuệ là cần thiết để hàn gắn những sự phân cấp của phàm ngã.” (EPII, 417) Cung phàm ngã thường gây ra một thái độ chia rẽ và tách rời, điều này sẽ được khắc phục và chấm dứt khi thể trí được huấn luyện để kiểm soát và thống trị trong các lĩnh vực của phàm ngã khi phàm ngã tìm cách biểu hiện trên cõi trần. Mô hình phàm ngã là mục tiêu của phàm ngã và cách thức mà nhờ đó mục tiêu được đạt đến. Năng lượng cung phàm ngã sẽ tác động theo 3 cách liên quan đến 3 trạng thái của phàm ngã: là tác nhân chuyển hóa thể xác - dĩ thái, là tác nhân biến đổi thể cảm dục, là tác nhân biến hình thể trí. b. Mục tiêu, cách thức, lĩnh vực phụng sự của cung phàm ngã của nhân loại Phàm ngã cung 5 sử dụng các phương pháp, kỹ thuật và nguồn liệu như bảng sau: (EPII, 83) ^Cung^Năng lượng^Kỹ thuật ^Tính chất ^Nguồn ^ |5 |> Khoa học|Biến phân|> Phân biện|> Các hình tướng được điện hóa theo cách kết tinh| Là một cung thuộc tính nên mục tiêu của phàm ngã nhân loại là khai mở tính chất hay nguyên khí trí tuệ của Thượng đế, và nhiệm vụ của nó là kích thích việc hoạch đắc tri thức và sự phát triển trí tuệ của con người, bởi con người vốn là Con của Thượng đế, là tiểu thiên địa so với đại thiên địa. Khi trí tuệ khai mở thì con người bắt đầu nhận thức được ý chí, mục tiêu và kế hoạch của Thượng đế, nhận thức được Thiên cơ. Cung 5 là một trong các cung đã mang lại sự biệt ngã hóa cách đây hàng triệu năm cho giới nhân loại, nó tác động hay tuôn đổ ảnh hưởng của nó để tạo ra ngã thức bên trong hình hài hữu thức, khi đó là hình hài người—thú. Và vì thế nó cũng có nhiệm vụ đưa nhân loại lên con đường hoàn nguyên. Ở đây ta thấy vai trò vô cùng quan trọng của các Đấng Thái dương Thiên thần—các Hỏa thiên thần của cõi trí—nhóm Devas thứ 5, khi các Ngài tự hy sinh bản thân cho con người có ngã thức, dẫn dắt con người từ khi chiếm hữu hình hài động vật, chuyển hóa, chuyển đổi, chế ngự, kiểm soát hình hài đó cho đến khi nó hoàn thiện, và giải thoát ra khỏi nó. Nhờ sự hy sinh của mình mà các Ngài đã cứu rỗi vật chất, nâng nó lên để tinh thần hóa nó, “nâng con người từ cái chết đến sự sống”, nâng con người ra khỏi ngục tù đen tối của vật chất, đi vào ánh sáng ban ngày. Nguyên khí trí tuệ hay nguyên khí manas chính là chìa khóa dẫn giới nhân loại đến cánh cửa đi vào giới thứ 5 của thiên nhiên, tức giới tinh thần. Bởi vì cung phàm ngã luôn luôn là một cung phụ của cung linh hồn nên nhiệm vụ của giới nhân loại là phải tổng hợp, bổ sung các khía cạnh cao của cung 5 phàm ngã vào cùng với những khía cạnh của cung 4 linh hồn để cho sự hợp nhất của hai năng lượng linh hồn với phàm ngã của con người được hoàn tất: + kỹ thuật tích hợp của cung 5, kỹ thuật “dứt bỏ” được áp đặt lên phàm ngã sao cho cuối cùng sẽ đạt được các mục tiêu của nó. + lý trí, nhận thức trí tuệ và các tính chất khác của đời sống trí tuệ và tư tưởng sẽ được chú trọng, bổ sung, tích hợp trong phàm ngã nhân loại. + các phẩm tính trí tuệ như lương tri, chính trực, độc lập, trí năng sắc bén,… được tổng hợp thành phẩm tính minh triết cho cung linh hồn. + tính chất phân tích mạnh mẽ tạo ra tác động chia rẽ sẽ phải được chuyển hóa thành chức năng mặc khải, nhờ đó hóa giải tính chất chia rẽ của phàm ngã. + lĩnh vực phụng sự Thiên cơ của phàm ngã nhân loại sẽ theo đường lối cung 5— kiến thức, khoa học cụ thể. Thông qua cung trí tuệ này mà nhân loại kích thích sự tiến hóa, nuôi dưỡng khía cạnh tâm thức trong 3 giới dưới nhân loại. + đường lối ít đối kháng nhất cho cơ tiến hóa của nhân loại trong chu kỳ này, trên hành tinh này là tạo ra sự thống nhất, hài hòa, mỹ lệ của thiên nhiên, của linh hồn với mọi hình tướng, thông qua khí cụ phàm ngã trí tuệ, khoa học cụ thể, qua sự phân biện, phân tích, cuối cùng sẽ dẫn đến sự mặc khải, giác ngộ về linh hồn, về sự sống tinh thần. Cung 5, như là cung phàm ngã của nhân loại, là công cụ để giúp con người trở thành “bậc thầy của những gì y nghiên cứu1. Con người vươn tới quyền năng và quyền làm chủ bằng phương pháp khoa học cụ thể của cung 5, bằng sự nghiên cứu, quan sát khách quan, với tư cách là chủ thể, tách mình ra khỏi đối tượng khách thể. Cung 5 còn được gọi là cung của trí tuệ ứng dụng. Cung 5 giúp con người có thể vận dụng vật chất để thể hiện trí thông minh và phục vụ đích đến của một trí thông minh cao cấp. Điều này giúp làm tăng tốc độ mà tinh thần thấm nhuần vật chất, thúc đẩy sự hợp nhất giữa tinh thần với vật chất một cách nhanh chóng. “Khi tri thức về Thượng đế sẽ tỏa chiếu khắp nơi (vì đây không phải là tri thức hay ý thức về một Thực thể vĩ đại, mà là sự biểu lộ qua phương tiện con người của sự toàn tri thiêng liêng), lúc bấy giờ, vị Chủ quản của Khoa học Cụ thể, là hiện thân của nguyên khí thứ năm, nguyên khí trí tuệ, chứng kiến công trình của Ngài được đưa tới kết thúc. Ngài kích thích giác quan ý thức trong nhân loại và nuôi dưỡng khía cạnh tâm thức trong các giới dưới nhân loại, do đó tạo ra sự đáp ứng của vật chất đối với tinh thần, và mang lại sự giải thích cho những gì mà với chúng đã có một mối quan hệ hữu cảm thức.”( EPI, 134) “Căn chủng thứ năm đánh dấu một điểm mà nơi đó, thượng trí v| hạ trí gần bằng nhau, và ở nơi đó, trí cụ thể, nhờ đáp ứng với sự phát triển cao nhất của nó trong cuộc tuần hoàn này, nhường chỗ cho trực giác từ bên trên.” (TCF,599) Đại tà thuyết chia rẽ đang chi phối nhân loại ngày nay do ảnh hưởng của Luật Phân chia của phàm ngã cung 5 sẽ phải được hóa giải bởi tính chất bắc cầu của cung 4 như là một trung gian hòa giải với sự hiểu biết sâu sắc của nó. Nhờ sự phối trộn của cung 4 với cung 5 này mà nhiệm vụ của giới thứ tư trong việc xây dựng cây cầu antahkarana lấp khoảng trống giữa tâm thức con người với tâm thức tinh thần, và làm cho nhân loại cuối cùng có được trực giác như ngày nay đang có trí tuệ vậy sẽ được hoàn thành. ”Trong gia đình nhân loại, những sự phân cấp khác nhau mà con người ý thức một cách đầy đau khổ sẽ được khắc phục và được chấm dứt khi thể trí được huấn luyện để kiểm soát và thống trị trong lĩnh vực của phàm ngã, và được sử 1 master of all he surveys - Tapestry of God, Vol. I, p.140, M.Robbin. dụng một cách chính xác như một yếu tố phân tích, tích hợp, thay vì như một yếu tố chỉ trích, phân biệt đối xử, chia rẽ. Việc sử dụng đúng đắn trí tuệ là cần thiết để hàn gắn những sự phân cấp của phàm ngã.” (EPII, 417) “Chính thể trí mới tách và phân chia; chính hoạt động trí tuệ (thiêng liêng, và vượt trên con người, cũng như con người) mới tạo ra nhiều phân biệt. Tiến trình phân chia này đi tới tột đỉnh của nó trong chu kỳ thế giới này trong giống dân Arya, giống dân thứ năm.” (EPI, 377) Đối với nhân loại, chính năng lượng cung 5 đã dẫn đến chiến trường của giới này, vì nó là năng lượng của trí phân biện. Chỉ đến khi năng lượng này đã được vận dụng, được kiểm soát và được chuyển hóa, tổng hợp thành một phẩm tính của cung 4 linh hồn, lúc đó chiến trường của nhân loại mới kết thúc. Nhờ khả năng suy tư, con người biết hoạt động một cách có ý thức và khôn ngoan trong việc làm cho chính y thích ứng với tình thế và nhờ thế dần dần tạo được sự kiểm soát hữu thức với vật chất, điều khiển, chế ngự nó. Với sự hợp nhất của trực giác từ năng lượng linh hồn cung 4 với trí năng được sinh ra từ cung 5 phàm ngã, con người có thể tạo ra những sáng tạo vĩ đại giống như diễn trình sáng tạo của Thượng đế đã diễn ra trong vũ trụ. Năng lượng cung 5 giúp giới nhân loại sở hữu tri thức, và cuối cùng, chuyển hóa nó thành minh triết; giúp nhân loại dùng tri thức trong việc thúc đẩy Thiên cơ, và do đó hoạt động như một yếu tố soi sáng con đường tiến hóa của nhân loại và các giới dưới nó. Khi bản chất trí tuệ phân tách, chia rẽ của cung 5 được chuyển hóa thành sự giác ngộ, mặc khải thiêng liêng về Thiên cơ, Thiên ý, thì, như Cổ Luận nói: “Thể trí tiết lộ Đấng duy nhất”, con người nhận biết về Thượng đế, về Sự sống duy nhất. Đối với 3 trạng thái của phàm ngã nhân loại, năng lượng cung 5 đã và đang tác động theo những cách sau: + kiểm soát thể xác—dĩ thái nhờ các giới luật vật chất: thông qua việc ăn uống điều độ, bổ sung các chất dinh dưỡng theo những nghiên cứu khoa học; các bộ môn thể dục luyện tập với những nghiên cứu rõ ràng về lợi ích của nó đối với thể xác, thể dĩ thái; việc sử dụng nguồn prana tự nhiên từ ánh nắng mặt trời;… + thể cảm dục được tổ chức lại, được làm cho dễ tiếp thu các rung động cao, các ấn tượng tinh thần, tiến tới xua tan ảo cảm vật chất nhờ các tiến trình biến đổi của trí tuệ, khả năng nhận thức ngày một phát triển hơn. + thể trí với khả năng suy tư trí tuệ mạnh mẽ để hình thành chức năng mặc khải và như thế tiến tới tương lai hoạt động qua thượng trí trừu tượng. Nó đã tạo ra những kết quả được ghi nhận trên thế giới ngày nay: “Biểu hiện nổi bật của năng lượng cung 5 này có thể được nhìn thấy trong việc trình bày có hệ thống một cách nhanh chóng nhiều hệ tư tưởng đã xảy ra từ năm 1900. Các từ như Chủ nghĩa Phát xít, Chủ nghĩa Cộng sản, Chủ nghĩa Quốc xã, Chủ nghĩa Xã hội như người Anh chấp nhận nó, và tên của nhiều trường phái tâm lý học và triết học, không được biết cách đây một trăm năm; ngày nay chúng là cuộc trò chuyện và cụm từ thông thường của người bình thường. Dòng lưu nhập của năng lượng trí tuệ này vào thế giới con người, việc đạt được trong tâm thức khả năng trí óc của nhiều ngàn người, và việc đạt được sự an trụ trí tuệ của người tìm đạo trên khắp thế giới, tất cả đều do hoạt động của năng lượng cung 5 này; điều này có thể được xem như là công việc chuẩn bị cho các cuộc điểm đạo thứ nhất và thứ hai. Một số của sự thành công này cũng là do một chức năng ít được hiểu rõ về năng lượng cung 5 này— chức năng tương tác viễn cảm. Vài người nhận thức ở mức độ nhỏ nhất mỗi người có viễn cảm tự nhiên như thế nào, hoặc thể trí của họ nhạy cảm như thế nào; một lần nữa điều này là một hiệu quả của ảnh hưởng cung 5. Sự sáng tạo (và, Tôi nên thêm là sự quá sáng tạo) của hàng triệu sự việc vật chất mà con người ở khắp mọi nơi coi là thiết yếu cho phúc lợi của họ cũng là kết quả của hoạt động sáng tạo của tâm thức cung 5. Dĩ nhiên điều này xảy ra vì nó thể hiện trên cõi trần. Khi nó thể hiện trên cõi trí, lúc đó chúng ta nói về các ý tưởng, các quan niệm, các triết lý và các hệ tư tưởng. Khi nó thể hiện trên cõi cảm dục, chúng ta ý thức về xung lực tôn giáo, thuyết thần bí và các ham muốn tình cảm đang chi phối.” (RI, 597) Đối với lĩnh vực phụng sự là 3 giới dưới, nhân loại sử dụng ảnh hưởng của năng lượng cung 5 để dẫn dắt giới động vật hướng tới sự giải thoát vào giới thứ 4, đối với giới thực vật là thúc đẩy năng lực tạo mùi thơm (sự phối trộn của cung 4 với cung 5 ở con người tạo ra một hào quang mà nó ảnh hưởng tới giới thực vật), đối với giới khoáng chất là tác động về mặt giả kim và huyền thuật. “Công việc sáng tạo sẽ tiến hành và Thiên cơ sẽ thành hiện thực. Công việc của con người đối với động vật là kích thích bản năng cho đến khi việc biệt ngã hóa xảy ra. Công việc của con người đối với giới thực vật là thúc đẩy năng lực tạo mùi thơm và thích nghi đời sống thực vật cho vô số việc sử dụng của con người và của con vật. Công việc của con người với giới khoáng chất là tác động về mặt giả kim và về mặt huyền thuật. Ở đây, Tôi không thể bàn đến tiến trình chuyển hóa và sự khám phá tiếp sau đó.” (EPI, 311) c. Biểu đồ cung nhân loại trong Kỷ nguyên Bảo Bình Như phân tích ở trên, nhân loại có cung 4 linh hồn và cung 5 phàm ngã chi phối suốt chu kỳ tiến hóa. Và trong từng chu kỳ nhập thế nhỏ hơn, biểu đồ cung của nhân loại sẽ thay đổi để phù hợp với mục tiêu, kế hoạch của linh hồn, chân thần. Trong Kỷ nguyên Song Ngư, các cung chi phối gia đình nhân loại như sau: a. Cung linh hồn ………. cung 2 ……. nhân loại phải biểu lộ tình thương. b. Cung phàm ngã …….. cung 3 ……. .sự thông tuệ đang phát triển để biến đổi thành bác ái—minh triết. c. Cung thể trí ………….. cung 5 ……. thành tựu khoa học. d. Cung thể cảm dục …. cung 6 ……. phát triển chủ nghĩa lý tưởng. e. Cung thể xác …………. cung 7 ……. tổ chức, kinh doanh. (GWP, 158) “Cung linh hồn kiểm soát toàn bộ giai đoạn sống.”1 Như vậy, trên thực tế, cung linh hồn 4 vẫn giữ nguyên nhưng ở chu kỳ này có mục tiêu là phát triển cung 2. Cung 5 cai quản thể trí và cung 3 cai quản phàm ngã. Vì vậy, sự phát triển trí thông minh thông tuệ là điểm nổi bật của nhân loại ở giai đoạn này. Cung 3 kết nối với vật chất, và một nền tảng vật chất được xây dựng bằng trí thông minh cụ thể, phổ biến sẽ phải được chuyển hóa thành minh triết để biểu lộ tình thương dưới sự dẫn dắt của linh hồn cung 2. Cung 5 đã phát triển vượt bậc vào cuối chu kỳ Song Ngư với rất nhiều thành tựu khoa học mà nó tạo ra. Cung cảm dục 6 đánh dấu một giai đoạn phát triển cao về chủ nghĩa lý tưởng, và sùng tín của nhân loại. Chúng ta có thể nhận thấy điều này trong lịch sử của nhân loại với những cuộc thập tự chinh, chiến tranh tôn giáo, của sự phát triển tột đỉnh của Cơ đốc giáo, Hồi giáo,… Cung 7 thể xác với sự phát triển của các doanh nghiệp, tập đoàn, tổ chức lớn trên toàn thế giới. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình đang nhanh chóng đến, Kẻ Chận Ngõ sẽ xuất hiện hơi khác với các mãnh lực của phàm ngã: a. Cung phàm ngã…… cung 5…. có tính căn bản và có tính quyết định. b. Cung thể trí………… cung 4…. hiệu quả sáng tạo. c. Cung thể cảm dục… cung 6…. chi phối các động cơ thúc đẩy. d. Cung thể xác ………. cung 7…. cung sắp đến. (GWP, 158) Ở biểu đồ này, Chân sư không nhắc đến cung 2 linh hồn nữa vì nó vẫn chi phối trong chu kỳ này. Cung phàm ngã từ cung 3 chuyển sang cung 5, cung thể trí từ cung 5 chuyển sang cung 4. Cung thể cảm dục và thể xác vẫn là cung 6 và 7. Có một sự khác biệt ở cung phàm ngã của hai thời đại. Phàm ngã cung 3 của nhân loại ở Kỷ nguyên Song Ngư gắn liền và chú trọng vật chất, cùng với cung 6 sùng tín của thể cảm dục, không khó nhận ra ảo cảm vật chất ảnh hưởng mạnh trong chu kỳ này. Phàm ngã cung 5 thời Bảo Bình nhấn mạnh vào sự thật, độ chính xác, sự nghiên cứu cẩn thận một cách khoa học, khách quan. Cung 5 đã phát triển rất mạnh ở chu kỳ Song Ngư với những thành tựu khoa học nổi bật (kết quả của thể trí cung 5), sang giai đoạn này nó chi phối phàm ngã nhân loại với các đặc tính căn bản và có tính quyết định. Phàm ngã cung 5 đề cao các thuộc tính thiêng liêng của Thượng đế: phân tích, phân biện, phân biệt. Dấu hiệu hoàng đạo Bảo Bình truyền dẫn năng lượng cung 5. Ở đây chúng ta có sự cộng hưởng số học của số 5: cung 5 phàm ngã (nói chung) của nhân loại—cung 5 phàm ngã chu kỳ Bảo Bình—cung 5 được truyền dẫn qua Bảo Bình—chủng tộc thứ 5 (Arya) của nhân loại. Nó tạo ra một sự chỉnh hợp mạnh mẽ cho 1 Glamour A World Problem, p.158. ánh sáng cung 5 đi xuống. “Năng lượng của nó đập vào thể trí con người vào lúc này, và tạo ra loại kích thích nằm đằng sau mọi sự tiếp cận khoa học với chân lý trong mọi bộ môn của tư tưởng nhân loại. Vì cũng là cung đang chi phối khía cạnh phàm ngã của giới thứ tư trong thiên nhiên, và là một trong các cung quyết định hay chi phối giống dân Arya của chúng ta, uy lực hiện tại của nó thì quá mức.”1 Năng lượng soi sáng của cung 5 phàm ngã sẽ khiến nhân loại không còn quá ảo cảm và ham muốn vật chất. Kim tinh truyền dẫn cung 5 sẽ mang lại thời đại của tình huynh đệ đại đồng, tình huynh đệ khoa học, và sự thật về linh hồn sẽ được chứng minh và chấp nhận. Cung 5 là cung duy vật (chu kỳ Song Ngư), nhưng nó cũng đưa đến cái chết của chủ nghĩa duy vật (chu kỳ Bảo Bình). Nhân loại có thể có một niềm hy vọng về những nghiên cứu, khám phá lớn lao liên quan đến các thuộc tính, những điều cơ bản của năng lượng vật chất, cấu trúc của vật chất, bản chất thật sự của chất dĩ thái,…, những kết quả khoa học khách quan, chính xác sẽ định hướng con người tới sự phân cực vào cõi trí ở một cấp độ cao hơn so với thời Song Ngư. Cung 4 là cung của trực giác và sáng tạo. Chúng ta tiếp tục có một sự cộng hưởng số học của số 4—cung linh hồn (nói chung) của nhân loại và cung 4 thể trí nhân loại trong chu kỳ này. Trực giác sẽ phục vụ cho mục đích khoa học của việc khám phá sự thật, chân lý của mọi sự vật hiện tượng. Trực giác đến từ cung 4 thể trí sẽ giúp cho việc nghiên cứu về sự sống, sự thật về luân hồi, cấu tạo của con người, bản chất dĩ thái của con người,… được tiếp cận ở mức độ cao hơn, ít bị thao túng bởi ảo cảm hơn. Một cung 5 phàm ngã kết hợp với cung 4 thể trí giúp nhân loại không chỉ kiểm tra mà còn điều khiển mọi thứ theo cách họ muốn. Những ảo cảm, giả định sai lầm về cuộc sống sau sự chết vốn đã bị thao túng trong chu kỳ trước để phục vụ cho các mục đích chính trị, tôn giáo sẽ được phơi bầy dưới ánh sáng chân lý. Cung 6 cảm dục chi phối các động lực, khát vọng thúc đẩy nhân loại đạt được những lý tưởng cao đẹp hơn. Cung 6 trong giai đoạn này sẽ chịu ảnh hưởng từ cung khoa học cụ thể của phàm ngã để các lý tưởng của nó trở nên khách quan, rõ ràng hơn và bớt đi các ảo cảm sùng tín. Cung 7—cung đang tiến nhập vào hành tinh này theo chu kỳ cùng với Bảo Bình sẽ khiến cho tất cả mọi tính chất của nó được nâng cao. Chúng ta được biết rằng, một chủng tộc tồn tại trong một thời gian dài hàng triệu năm, vì vậy chu kỳ Bảo Bình sẽ vẫn tiếp tục chứng kiến sự phát triển của chủng tộc Arya dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cung 5. Trong căn chủng Arya, trí tuệ con người đang nhanh chóng thức tỉnh dưới ảnh hưởng của cung 5, nhân loại đang bận rộn với việc phát triển lý trí, nhận thức trí tuệ và các tính chất khác của đời sống trí tuệ và tư tưởng. Sự phát triển này mang đến năng lực tổ chức với mục tiêu rõ ràng của con người trên thế giới. Chủng tộc Arya đang tiến tới mục tiêu hoàn thành kế hoạch của Thượng đế về việc nhân loại cần kiểm soát và chế 1 Esoteric Psychology, Vol I, p.350. ngự vật chất trên cõi trần. Chủng tộc thứ 5 này, vào cuối chu kỳ phát triển của nó, sẽ đánh dấu một điểm mà ở nơi đó, hạ trí—trí cụ thể sẽ nhường chỗ cho trực giác hay trí tuệ thuần khiết. Ảnh hưởng của cung 4 và năng lực phát triển của cung 5 đồng nghĩa với việc phối hợp của trực giác với trí tuệ cụ thể. “Năng lượng cung này thực sự xơ cứng một cách đáng buồn trong sự biểu lộ của nó trong chủng tộc Arya chúng ta—tuy nhiên, một chủng tộc vốn sẽ chứng kiến nhiều người được điểm đạo hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại, và sẽ, trong một ý nghĩa đặc biệt, nhìn thấy việc giáng lâm của Thiên giới đến Cõi trần như là một kết quả của sự thăng lên của rất nhiều người trên thang tiến hóa. Giống như đệ tử hoặc điểm đạo đồ là một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, cũng thế, nhân loại—trên cõi trần—cũng sẽ được linh hồn thấm nhuần, nhờ thế thúc giục Thiên giới, và khai sinh ra một giới mới trong thiên nhiên.” (RI, 593) Chân sư DK đã cho chúng ta biết sự liên quan chặt chẽ của cung 5 với tiến trình điểm đạo, và ở đây Ngài tiên lượng về khả năng điểm đạo của chủng tộc Arya, một chủng tộc sẽ chứng kiến nhiều người được điểm đạo hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại. Sự tái lâm của Đấng Christ sẽ giúp tăng số lượng điểm đạo đồ và giúp cho Thiên Giới xuất hiện/giáng lâm ở cõi trần. Sự tiến nhập của cung 7 theo chu kỳ cùng với kỷ nguyên Bảo Bình—một dấu hiệu của nhóm, và cung 5—cung cấp quyền năng điểm đạo sẽ giúp đưa tới khả năng điểm đạo theo nhóm. Điều đó giải thích lý do vì sao chủng tộc Arya sẽ có nhiều người được điểm đạo trong chu kỳ này. d. Một số quốc gia có cung 4, 5 kiểm soát trên thế giới Chân sư DK tiết lộ cho chúng ta biết một số quốc gia lớn có ảnh hưởng đối với nhân loại trên thế giới được kiểm soát bởi cung 4, cung 5 như bảng sau: (EPI, 382) ^Quốc

gia^Cung phàm ngã ^Cung Chân Ngã^Phương châm ^ |> Ấn Độ |> Cung 4, về nghệ thuật |> Cung 1, về cai trị |“Tôi che giấu Linh Quang”| |> Đức |> Cung 1, về

> quyền lực|Cung 4, về nghệ thuật|> “Tôi bảo tồn” | |> Pháp |> Cung 3, về trí tuệ |> Cung 5, về tri thức|“Tôi phóng rải Ánh Sáng” | ^> Ý ^> Cung 4, về nghệ thuật ^> Cung 6, về chủ nghĩa lý tưởng ^> “Tôi khắc chạm các

> Thánh Đạo”^ |> Áo |> Cung 5, về tri

> thức|Cung 4, về nghệ thuật |> “Tôi phụng sự Con

> Đường Sáng”| |> Brazil| |Cung 2, về bác ái Cung 4, về nghệ thuật|> “Tôi che giấu hạt giống”. | - Ấn Độ, có cung phàm ngã hay cung vật chất của nó là cung Hài hòa qua Xung đột. Điều này có thể được nhìn thấy được biểu lộ đầy đủ trong đất nước bất hạnh đó trong những năm 1947–1948. Ấn Độ vốn già giặn và bị kết tinh trong sự chia rẽ của nó, trong vô số giáo phái đa dạng và các nhóm tôn giáo của nó, trong ngôn ngữ đa dạng của nó và trong sự đối kháng cổ xưa của nó; sẽ còn lâu trước khi có bất kỳ sự tổng hợp cơ bản hoặc hài hòa nào. (RI, 624) - Cung chi phối sự biểu lộ linh hồn của chủng tộc Đức là cung Hài hòa qua Xung đột, nhưng phàm ngã duy vật của nó được tập trung vào bản chất tình cảm và chưa ở dưới sự kiểm soát của linh hồn, bị chi phối bởi cung 1, Quyền lực. Đức với tư cách một quốc gia còn quá trẻ, chưa trưởng thành, và thiếu lạc quan để nhận thức những năng lực sử dụng thực sự của quyền lực; nó thiếu minh triết để vận dụng quyền lực, và ý thức tự ti của nó (dựa trên tuổi trẻ) đưa nó đến chỗ lạm dụng quyền lực khi Đức có nó. (RI, 624) - Nước Ý cũng bị ảnh hưởng bởi cung Hài hòa qua Xung đột vì phàm ngã hoặc biểu hiện vật chất của nước này bị chi phối bởi cung này. Trong cuộc thế chiến, Ý đã có một vị vua, một nhà độc tài, và một giáo hoàng, và điều này đã tạo ra một cơn lốc xung đột trong những người Ý có mức thông minh cao. Nhà độc tài không còn ở đó, chế độ quân chủ cũng đã biến mất, và chỉ có tiếng nói liên tục của Vatican là còn lại, nhưng—lạ thay—nhận ít sự quan tâm ở Ý so với ở các nước Thiên Chúa Giáo khác. Sự xung đột trong các thế kỷ đã làm nhiều điều cho người dân Ý, và tâm lý hướng ngoại cao độ của họ đã tạo ra trong họ một sự cân bằng, vốn có thể tỏ ra có triển vọng nhất trong tương lai. Sự xung đột tư tưởng mà họ đã trải qua trong khoảng một trăm năm trước đây, đã tạo hiệu quả tốt đẹp cho họ. Họ bị giằng xé bởi nền chính trị đảng phái, trong cuộc nổi dậy chống lại các tục lệ của nhà thờ, và thiếu khả năng lãnh đạo, tuy nhiên họ vẫn mạnh mẽ trên con đường đến sự giải quyết vấn đề của họ. (RI, 625) - Pháp phàm ngã cung 5. Các tính chất của thể trí - sự kiêu hãnh, việc cho mình là trung tâm, một thái độ chia rẽ, một sự quy hoạch ích kỷ và một chủ nghĩa duy vật vốn ăn sâu vào ý thức quần chúng—đang chiếm ưu thế trong hoạt động của họ và được tập trung vào phúc lợi vật chất của nước Pháp. Không một ý-thức-hệ nào chiếm ưu thế; để cho việc xung đột không được nâng lên đến mức ý—thức—hệ, và cho đến khi một chủ nghĩa lý tưởng được công nhận bắt đầu chi phối thể trí người Pháp và ý thức quần chúng, nếu không thì nước Pháp không thể phát triển được; không một ý thức tôn giáo hoặc tâm linh cơ bản được tìm thấy trên một quy mô lớn, bởi vì thể trí vốn có thể soi sáng cõi của tinh thần một cách đầy cảm hứng như thế lại được tập trung chủ yếu vào ba cõi sinh hoạt vật chất. (RI, 628) - Khi trí tuệ của người Pháp được hướng về phía khám phá và giải thích các sự việc về tinh thần, lúc bấy giờ họ sẽ đưa sự thiên khải cho thế giới. Khi cung Chân ngã của họ chi phối cung 3, và khi tác động chia rẻ của cung 5 được chuyển hóa thành chức năng mặc khải của cung này, bấy giờ nước Pháp sẽ tiến nhập vào một thời kỳ vinh quang mới. Đế chế Pháp bấy giờ sẽ thuộc về thể trí, còn vinh quang của nó thuộc về linh hồn. (EP I, 384) V. TỔNG KẾT Ảnh hưởng mạnh mẽ của cung 4 linh hồn cuối cùng sẽ tạo ra trong con người sự xuất hiện của trực giác và cung 5 phàm ngã sẽ chịu trách nhiệm cho sự phát triển trí năng trong con người. Và như vậy, con người phối hợp trong chính y các tính chất của 3 giới trong thiên nhiên: giới động vật với hình hài, giới nhân loại với trí năng, giới linh hồn với trực giác Bồ đề. Như vậy, 2 cung thuộc tính hiện nay đang chi phối và quyết định sự tăng trưởng, tiến hóa của nhân loại từ góc độ tính chất, nhân loại đang phát triển sự bén nhạy tâm linh, các đặc điểm của sự sống sắc tướng để biểu lộ bản chất thiêng liêng mạnh mẽ. Cung 4, cung 5 đang khiến nhân loại tạo ra việc khai mở các tính chất của Thượng đế. Trong tương lai, khi nhân loại tiến bộ đủ điều kiện gia nhập giới thứ 5, cung linh hồn sẽ chuyển sang cung 2, cung trạng thái chính, sự tiến hóa sẽ ở góc độ mục đích, để biểu lộ ý định thiêng liêng, mục tiêu vũ trụ và Thiên cơ. Với mô hình linh hồn cung 4, phàm ngã cung 5, trực giác, sự mỹ lệ của Thiên ý, Thiên cơ sẽ được nhận ra thông qua trí năng của giới nhân loại. Nói cách khác, đây là mô hình trí tuệ—trực giác. Mục tiêu của nhân loại là đạt đến sự hài hòa hoàn toàn qua tri thức đúng đắn. Sự hài hòa qua xung khắc và năng lực đạt tới tri thức qua sự lựa chọn phân biệt đang thúc đẩy nhân loại hướng tới vận mệnh thiêng liêng của mình. Với mô hình linh hồn cung 2, phàm ngã cung 5, Bác ái—Minh triết (như là mục đích, mục tiêu) của Thượng đế ngôi Hai sẽ được nhận ra qua sự mặc khải của Giới Linh hồn. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Luận về lửa càn khôn, A.Bailey 2. Giáo lý bí nhiệm, Blavatsky 3. Cung và điểm đạo, A.Bailey 4. Tâm lý học nội môn (2 tập), A.Bailey 5. Đường đạo trong kỷ nguyên mới, A.Bailey 6. Luận về huyền linh thuật, A.Bailey 7. Thư về tham thiền huyền môn, A.Bailey 8. Điểm đạo trong nhân loại và thái dương hệ, A.Bailey 9. Ảo cảm, một vấn đề của thế giới, A.Bailey 10. Chiêm tinh học nội môn, A.Bailey 11. Vận mệnh các quốc gia, A.Bailey 12. Nền giáo dục trong kỷ nguyên mới, A.Bailey 13. Tài liệu học QU1, Morya Federation 14. Tapestry of God, volum I 15. Các webinar commentary RI, CF, GWP trên www.makara.us__ Ảnh bìa: www.minhtrietmoi.org__//

topic_documents/dhy/level1/qu1_dhy_cung4_cung5.txt · Last modified: by 127.0.0.1

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki