lúc đó, tùy ý và bất cứ lúc nào, y cũng giao tiếp được với linh hồn mình, tức trạng thái thiêng liêng thứ hai.
then, at will and at all times, he is en rapport with his soul, the second divine aspect.
Phát triển tâm linh song hành
Paralleling Spiritual Development
Chính hào quang này thực ra mới là nguồn chứa chất liệu-tư tưởng (thought-subtance) mà về mặt tâm linh y có thể trông cậy vào. Điểm tập trung này ở trên cõi trí. Y không còn bị bản chất cảm dục kiềm chế nữa; y thành công trong việc kiến tạo antahkarana mà các ấn tượng cao siêu có thể tuôn chảy theo đó; y không học cách xua tan dòng lưu nhập (inflow) này nữa, mà tích lũy bên trong hào quang (mà y đã bao quanh chính mình với hào quang đó) loại tri thức và minh triết mà y nhận biết được việc phụng sự của y cho đồng loại của y đang cần đến. Một đệ tử là một trung tâm thu hút ánh sáng và tri thức chừng nào mà hào quang từ lực/thu hút còn được y giữ lại trong trạng thái tiếp nhận. Bấy giờ nó thường xuyên có tính chất thỉnh nguyện thuộc loại các ấn tượng cao siêu; nó có thể được gợi ra và tạo thành “hoạt động phân phối” bởi những gì thấp kém và những gì cần sự trợ giúp. Do đó, vào đúng lúc, đệ tử trở thành một tương ứng/tương đương rất nhỏ của Thánh Đoàn—có tính chất thỉnh nguyện y như Thánh Đoàn đối với Shamballa và dễ dàng được cầu khấn bởi nguyện vọng của con người. Đây là các điểm biện minh cho việc xem xét thận trọng. Chúng bao hàm một nhận thức ban sơ về các điểm nhất tâm bất loạn (points of tension) và sự phát triển theo sau vào trong hào quang hay lĩnh vực thu hút, có thể thỉnh nguyện và đáp ứng (invocation and evocation).
It is this aura which is in reality the reservoir of thought-substance upon which he can spiritually rely. His point of focus is upon the mental plane. He is no longer controlled by the astral nature; he is successfully constructing the antahkarana along which the higher impressions can flow; he learns not to dissipate this inflow but to accumulate within the aura (with which he has surrounded himself) the knowledge and the wisdom which he realises his service to his fellowmen requires. A disciple is a magnetic centre of light and knowledge just in so far as the magnetic aura is held by him in a state of receptivity. It is then constantly invocative of the higher range of impressions; it can be evoked and set into “distributing activity” by that which is lower and which is demanding aid. The disciple therefore, in due time, becomes a tiny or minute correspondence of the Hierarchy—invocative as it is to Shamballa and easily evoked by human demand. These are points warranting careful consideration. They involve a primary recognition of points of tension and their consequent expansion into magnetic auras or areas, capable of invocation and evocation.
Các lĩnh vực nhạy cảm này vượt qua ba giai đoạn, mà Tôi không định bàn rộng thêm:
These areas of sensitivity pass through three stages, upon which it is not my intention to enlarge:
1. Sự bén nhạy đối với ấn tượng từ những người khác. Bén nhạy này trở thành có công dụng trong việc phụng sự khi hào quang từ điểm cần đến đã được sinh ra và được đưa vào dưới sự kiềm chế có khoa học.
1. Sensitivity to impression from other human beings. This sensitivity becomes of use in service when the needed magnetic aura has been engendered and is brought under scientific control.
2. Nhạy cảm với ấn tượng tập thể—đường đi của các ý tưởng từ nhóm đến nhóm. Vị đệ tử có thể trở thành một tác nhân dễ thụ cảm trong bất cứ nhóm nào mà y là một phần tử trong đó và năng lực này chứng tỏ sự tiến bộ về phía đệ tử.
2. Sensitivity to group impression—the passage of ideas from group to group. The disciple can become a receptive agent within any group of which he is a part, and this ability indicates progress in his part.
